Monday, June 29, 2020

Lời Phật Dạy - Sư Tánh Trí - Lời Tựa




LỜI TỰA
Các huynh đệ thân mến! Kể từ khi hai tập sách Làm Bạn Với Thiện Là Giải Thoát Tu Là Gì ra đời đến nay, được sự tiếp nhận, đồng tình và hoan hỷ của rất nhiều các bạn ở khắp mọi nơi trong bổn đạo, các huynh đệ khi đọc, hiểu, giác ngộ thấy ra được sự thật, chân lý, biết được sự thật tu là gì? Tu như thế nào mới gọi là tu? Tu như thế nào là tu đúng? Tu như thế nào là tu sai? Tại sao có người tu hoài, thậm chí tu cả đời, bỏ ra ba, bốn chục năm tu hành cực khổ, vất vả mà không có được kết quả gì, tham, sân, si, cố tật vẫn còn nguyên. Từ khi đón nhận được hai tập sách, sống và thực hành theo lời dạy của Đức Phật, được ghi chép lại trong hai tập sách này, thực hành đến đâu, là thấy có được kết quả, lợi ích thiết thực, giải thoát, an vui, hạnh phúc ngay trong đời sống đến đó. Có nhiều huynh đệ đã bật khóc vì quá vui mừng, đã bày tỏ cảm xúc và niềm hoan hỷ, nhắn tin hoặc gọi điện cho chúng tôi để nói lên lời cám ơn, lòng biết ơn chân thành, từ khi các bạn đọc, hiểu, nhận thức thấy ra được những sai phạm, lầm lỗi trong đường hướng tu hành của mình, biết điều chỉnh, sửa chữa, từ bỏ dần những điều xấu ác trong tâm, tự làm khổ mình, khổ người, làm khổ chúng sinh theo những lời hướng dẫn, dạy bảo trong hai tập sách thì thấy cuộc sống của mình và các huynh đệ đồng đạo, anh em, vợ chồng, con cái trong gia đình có nhiều niềm vui hơn, hạnh phúc hơn, bình an hơn. Chúng tôi rất lấy làm hoan hỷ, đó là mong ước của chúng tôi khi ngồi biên soạn, ghi chép ra hai tập sách này. 
Xin chúc mừng các bạn, xin ghi nhận tình cảm, tấm chân tình của các bạn, các huynh đệ đã đón nhận tập sách, tin tưởng và thực hành theo, tấm lòng và ân tình đó của các bạn, chúng tôi xin dâng lên cúng dường Đức Phật và Thầy Tổ của chúng tôi, các Ngài đã tự thân tu tập, hành trì, chứng đạt được sự thật, chân lý. Các Ngài đã tuyên thuyết, trình bày, giảng dạy, nói lên sự thật và để lại cho chúng ta tài sản vô giá này. 
Bản thân chúng tôi cũng giống như các bạn, là người may mắn có được chút phước duyên, giác ngộ nhận được Chánh Pháp từ những lời dạy của các Ngài, để bày tỏ lòng biết ơn các Ngài, chúng tôi cố gắng hết sức, với tất cả sức lực, trí tuệ nhỏ bé, ít ỏi, khiêm tốn của mình đóng góp một chút ít công sức, bỏ ra một ít thời gian để ngồi kết tập, hệ thống, ghi chép, biên soạn lại những lời giảng dạy của các Ngài chuyển đến các bạn, những ai chưa có duyên lành giác ngộ được Chánh Pháp, không có gì là của chúng tôi cả.
     Thời gian gần đây, có vài huynh đệ gọi điện đến thăm hỏi chúng tôi và bày tỏ ước nguyện, vì lợi ích của đa số mọi người còn chưa giác ngộ được Chánh Pháp, hiểu sai, tu sai, hành sai, chưa phân biệt được đâu là Chánh Pháp của Đức Phật, đâu là những gì của người sau phát minh, biên soạn, ghi chép, giảng dạy ra sau này. Mong muốn chúng tôi nếu có thể, vì lòng từ bi, hoan hỷ, xin tiếp tục biên soạn ra thêm vài tập sách nữa để minh chứng rõ thêm, làm sáng tỏ thêm hơn về sự khác biệt, sự sai biệt giữa Chánh Pháp của Đức Phật và những gì không phải là Chánh Pháp, mà tự cho là Chánh Pháp, để ngỏ hầu giúp cho mọi người, những thế hệ về sau sớm giác ngộ được sự thật chân lý, nhờ đó trí tuệ được khai mở hơn, tu hành có được kết quả, lợi ích, cuộc sống có được nhiều niềm vui hơn, sống bình an hơn, hạnh phúc hơn.
     Chúng tôi thiết nghĩ, với hai tập sách đó cũng là tạm đủ, để các bạn nhận thức rõ, đâu là Chánh Pháp của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Nhưng để đáp ứng nguyện vọng, tấm chân tình tha thiết của các bạn, những người đệ tử Phật chân chính, được sự cho phép và khuyến tấn của Thầy Tổ, cùng sự hoan hỷ, đồng tình hỗ trợ của các huynh đệ đồng phạm hạnh, chúng tôi nhận lời và đây cũng là nguyên do chúng tôi chọn đề tựa cho tập sách lấy tên là LỜI PHẬT DẠY
     Trong tập sách này chúng tôi sẽ cố gắng biên chép lại thật đầy đủ những điều cốt lõi, tinh nguyên từ những lời dạy của Đức Phật bao gồm Tứ Diệu Đê, Bát Chánh Đạo và các Pháp Hành trợ đạo để các bạn và các huynh đệ thuận tiện trong việc nghiên cứu và ứng dụng thực hành tu tập, đồng thời phân biệt rõ, thế nào là Chánh Pháp Nguyên Thủy khi xưa, từ kim khẩu của Đức Phật nói ra và đồng thời nhận ra những gì không phải là Chánh Pháp, mà do những người sau đã chế tác, biên soạn, ghi chép lồng vào trong giáo lý đạo Phật.
     Chánh Pháp Nguyên Thủy khi xưa của Đức Phật ra đời tại đất nước Ấn Độ, sau đó được truyền bá, phát triển lần hồi sang nhiều đất nước khác cho đến ngày nay dường như đã bị mai một, mất gốc hoàn toàn. Một phần do tập tính, phong tục, tập quán, lối sống, cách sinh hoạt, ăn ở của mỗi miền đất nước khác nhau trên thế giới, từ đó các vị tu hành sau này nối tiếp nhau, tùy theo trí tuệ, sức lực, kinh nghiệm, sự tu hành chứng đạo, chứng đắc của mình, với ước muốn, ước nguyện phát triển, phổ biến truyền bá giáo pháp của Đức Phật được rộng khắp đến hầu hết tất cả mọi tầng lớp chúng sinh, nên đã linh động, uyển chuyển tùy duyên phát minh, sáng tạo, chế tác, thành lập ra thêm rất nhiều các Tông Phái, Hệ Phái, nhiều pháp môn để tùy thời, tùy duyên dễ dàng hóa độ quần chúng, không ngờ dần dần đánh mất đi nguồn cội, cốt lõi, cứu cánh, mục đích sự giải thoát thật sự ban đầu của Chánh Pháp Nguyên Thủy, tinh nguyên thời Đức Phật. 
       Hiện trạng bây giờ ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới, các Vị Giảng Sư, Giáo Thọ Sư khi đứng ra đại diện cho các Hệ Phái, Tông Phái của mình tuyên giảng Phật Pháp, Vị nào cũng cố gắng giảng thuyết, tuyên thuyết chứng minh, đưa ra những lập luận, lý luận, đều tự cho rằng mình đang giảng thuyết, nói đúng về Chánh Pháp của Phật. Có lẽ mọi người chúng ta ai cũng biết sự thật, chân lý ở đời chỉ có một. Và như Đức Phật đã xác quyết chỉ có một con đường duy nhất đến được chân lý, đó là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh đường duy nhất đến bình an bất tử. Nghĩa là ngoài Bát Chánh Đạo là tuyệt đối không có con đường thứ hai nào khác tu tập, hành trì đưa đến giải thoát. Tất cả mọi con đường tu tập, hành trì không đúng Bát Chánh Đạo, đều không thể nào đưa đến chứng ngộ, chứng đạt được chân lý bất tử Niết Bàn. Ở đâu có Bát Chánh Đạo, ở đó mới có bốn quả vị Thánh, ngoài Bát Chánh Đạo là tuyệt đối không có một con đường nào khác tu tập, hành trì chứng đạt được bốn quả vị Thánh. 
       Tu tập đúng Chánh Pháp của Phật khi xưa, là phải sống phạm hạnh thanh tịnh, hướng đến diệt ngã xả tâm, ly dục, ly bất thiện pháp, phá trừ năm triền cái, trừ diệt mười kiết sử, chứng đạt lần lượt bốn quả vị Thánh, có được hạnh phúc, bình an trong từng phút giây hiện tại, chấm dứt hoàn toàn đau khổ, chấm dứt tái sanh, sinh tử luân hồi ngay trong hiện kiếp.
      Điều đó có nghĩa là tất cả những kinh sách phát triển, những phương pháp phát minh sau này, được đem ra rao giảng, thuyết giảng đặt sai hướng, đi sai đường, khi thực hành tu tập bị giậm chân tại chỗ, không đem đến kết quả giải thoát, hạnh phúc, bình an chấm dứt hoàn toàn đau khổ, chấm dứt tái sanh sinh tử luân hồi ngay trong đời sống hiện tại, đều có thể kết luận là Tà Pháp, (Bát Tà Đạo). 
       Chữ Tà Pháp ở đây không có nghĩa là đối ngược lại hoàn toàn với hai chữ Chánh Pháp, mà là khi ứng dụng tu hành theo đường lối, phương pháp hướng dẫn nào đó cả đời vẫn không có kết quả giải thoát, tham, sân, si, kiết sử, triền cái, lậu hoặc vẫn còn nguyên, vẫn cứ tiếp tục chịu tái sinh, chịu trôi lăn trong ba cõi, sáu đường, vẫn còn ở trong nhà lửa địa ngục, đều gọi là Bát Tà Đạo. 
       Chánh Pháp những gì được Đức Phật giảng dạy, khai thị, trình bày, phân tích, hiển lộ khi xưa chỉ bao gồm Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các Pháp Hành trợ đạo. Suốt 45 năm trường vất vả, cực khổ vì Lòng Từ mẫn thuyết pháp, hóa độ chúng sinh, khi chuẩn bị nhập Niết Bàn, Đức Phật cho vân tập, dặn dò, di chúc lại cho các Thánh Chúng đệ tử của Ngài: 
Này các Tỷ Kheo! Trong suốt 45 năm trường thuyết pháp độ sinh Ta chỉ nói đúng hai điều: Khổ và sự Diệt khổ. Biển chỉ có một vị mặn và giáo pháp những gì ta giảng dạy cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát. Pháp của Ta dạy, Niết Bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có quả tức thời, chỉ Người Trí tự mình giác hiểu. Sau khi Ta diệt độ, nếu sau này có những kinh sách nào do người sau biên soạn, ghi chép, trình bày, giảng dạy không đúng Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các Pháp Hành trợ đạo, khi thực hành tu tập, không đem đến kết quả bình an, hạnh phúc, giải thoát Niết Bàn trong từng phút giây hiện tại, đều phải biết rằng, những kinh sách này không phải là những gì Ta giảng, Ta thuyết.”
     Với Trí Tuệ vô biên và Lòng Từ Bi vô hạn, Đức Phật đã tiên đoán trước, sau này sẽ có ngoại đạo biên soạn, ghi chép kinh sách, lồng vào trong giáo pháp của Ngài. Cho nên, trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại những lời dạy cuối cùng, những lời giáo huấn, dặn dò, di chúc lại rất cẩn thận, kỹ lưỡng để gởi gấm lại cho các thế hệ về sau, những bậc tu hành nghiêm túc, chân chính muốn đi tìm con đường giải thoát, chấm dứt hoàn toàn đau khổ sau này, khi nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi, đọc, xem kinh sách, không bị nhầm lẩn, biết rõ được đâu là Chánh Pháp, đâu mới thật sự là những lời dạy của Ngài, đâu là của những người sau phát minh, biên soạn, ghi chép ra, đưa vào, lồng vào trong kinh sách, gán ghép, mạo nhận, cho rằng của Ngài dạy, Ngài thuyết. Đó là nguyên do tôi lấy đề tựa tập sách là Lời Phật Dạy. 
        Vì vậy trong tập sách này chúng tôi sẽ cố gắng biên soạn, ghi chép lại toàn bộ Chánh Pháp thời Nguyên Thủy từ kim khẩu của Đức Phật bao gồm từ Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, cho đến các Pháp Hành trợ đạo khi xưa một cách đầy đủ để các bạn, các huynh đệ tiện tham khảo, nghiên cứu, tìm hiểu, tu tập, thực hành được thuận lợi hơn, dễ dàng hơn. 
         Do đó sẽ có những phần được biên soạn, ghi chép trong các tập sách trước đây, sẽ được biên soạn lại trong tập sách này, mong các bạn thông cảm. 
         Tuy nhiên, thiết nghĩ rằng, nếu đúng là Chánh Pháp từ những lời dạy của Đức Phật thì những gì chúng ta được đọc lại, được nghe lại nhiều lần, thì chúng ta càng hiểu rõ hơn, thông suốt hơn, nhớ kỹ hơn, tri kiến của chúng ta càng sáng, trí tuệ càng thông suốt thì việc tu tập, hành trì, diệt ngã xả tâm của chúng ta càng tốt hơn, càng có được kết quả lợi ích nhiều hơn. Trong kinh khi xưa Đức Phật cũng thường khuyên dạy, tán thán, khen ngợi các Bậc Đa Văn Thánh đệ tử nghe nhiều, tích tập những điều đã nghe. Vì nhờ có nghe nhiều, đọc nhiều, ghi nhớ, suy tư, chiêm nghiệm, nghiền ngẩm nhiều, thì khi gặp hoàn cảnh nhân quả xấu, ác pháp đến, chúng ta mới có đủ hành trang, tư lương để ngăn và diệt, hóa giải được tức thời tất cả mọi đau khổ, phiền não khi chúng xuất hiện nơi tâm thức của mình.
(Thích Tánh Trí, Lời Phật Dạy, Nxb. Hồng Đức, 2020)

Link download 3 quyển sách của Sư Tánh Trí

Saturday, June 29, 2019

Hiểu Về Niết Bàn



Niết Bàn là trạng thái tâm bất động giải thoát, chấm dứt phiền não nghiệp khổ luân hồi. Vậy tu tập như thế nào để có được trạng thái Niết Bàn ? Dưới đây là những lời Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Niết Bàn.

Người hằng tu thiền định
Thường kiên trì tinh tấn
Bậc trí hưởng Niết Bàn
Đạt an tịnh vô thượng.

📝 Người hằng tu thiền định chỉ cho hành giả siêng năng tu chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát thân - khẩu - ý, và dùng pháp như lý tác ý để xả tâm phiền não tham - sân - si - mạn - nghi. Khi hết tham - sân - si - mạn - nghi thì chứng được tâm vô lậu Niết Bàn. ( Để hiểu rõ về cách thức tu tập diệt tham tham – sân – si - mạn – nghi, quý phật tử nghe thêm pháp thoại PHÁP HÀNH TỨ NIỆM XỨ ).

Trong Phẩm Không Phóng Dật, Phật dạy:

Tỳ kheo sợ phóng dật
Ưa thích không phóng dật
Nhất định gần Niết Bàn
Không còn bị đọa lạc.

📝 Phóng dật là trạng thái tâm bị dao động và phiền não. Ví dụ, khi nghe ai nói lời xúc phạm ta thì trong tâm mình cảm thấy khó chịu bực dọc, tâm khó chịu bực dọc thuộc về sân phóng dật. 

Hoặc nghe người khác khen mình mà trong lòng thích thú vui mừng và mong được khen nữa, tâm đó thuộc về tham phóng dật. 

Hoặc khi ta thành tựu điều gì tốt mà hay tự mãn khoe khoang, tâm đó là mạn phóng dật. 

Tâm hay nghi kỵ, thiệt hơn, đúng sai, phải trái chuyện xấu tốt của mọi người xung quanh mình, tâm đó là nghi phóng dật. 

Tu tập các pháp sai mà cho là đúng, hoặc tin theo những điều tà mà cho là chánh, tâm đó là si phóng dật. 

Nếu hành giả tu tập đoạt diệt năm phóng dật phiền não tham - sân - si - mạn - nghi thì tâm chứng được vô lậu Niết Bàn, không còn bị đọa lạc sinh tử luân hồi. Vì vậy Đức Phật nói:

“Ta thành tựu Chánh Đẳng Giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành từ đó mà sinh”.


( Để hiểu rõ hơn về cách thức tu tập tâm không phóng dật, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại KHÔNG PHÓNG DẬT BẤT TỬ ).


Khác thay duyên thế lợi
Khác thay đường Niết Bàn
Tỷ kheo, đệ tử Phật
Hãy như vậy thắng tri
Chớ ưa thích cung kính
Hãy tu hạnh viễn ly.

📝 Viễn ly là tâm không còn tham chấp lợi đắc, cung kính và danh vọng. Ai sống theo lợi đắc, cung kính và danh vọng thì tâm bị mất Niết Bàn. Cho nên, để tâm không bị mất Niết Bàn thì phải tu hạnh viễn ly.

Hãy cầu vui Niết Bàn
Bỏ dục, không nhiễm uế
Kẻ trí tự rửa sạch
Mọi cấu uế nội tâm.

📝 Tâm giống như miếng vải dơ bẩn, nếu chúng ta biết giặt sạch chúng thì chúng trở nên sạch sẽ và hữu dụng. Cũng vậy tâm chúng ta hàng ngày siêng năng tu tập, bỏ dần mọi tham đắm dục lạc (danh, lợi, sắc, thực, thùy) thì tâm ấy sẽ đạt được giải thoát Niết Bàn. (Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM CẤU UẾ PHIỀN NÃO ).

Những ai thường chánh tâm
Tu tập pháp giác chi
Xa lìa mọi chấp trước
Hoan hỷ không nhiễm ái
Sẽ sống không lậu hoặc
Sáng chói, chứng Niết Bàn
Ngay trong đời hiện tại.

📝 Tham ái là trạng thái ưa thích dục lạc trong tâm. Ví dụ tâm mình còn tham chấp được người khác yêu quý mình, đó là tham ái. Tâm còn tham chấp ăn ngon, mặc đẹp, đó là tham ái... Hoặc khi ta đạt được thành công gì mà tâm còn tự mãn, vui thích khoe khoang, đó là tham ái. Hoặc một vị tu tập chứng đạt thiền định, tâm có khinh an hỷ lạc mà còn chấp thủ, khoe khoang, đó là tham ái… Để tâm không còn tham ái, Đức Phật dạy chúng ta hãy tu tập Bảy Pháp Giác Chi, hướng tâm đến Xả Giác Chi để xả ly tham ái, chứng ngộ Niết Bàn. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại PHÁP HÀNH BẢY GIÁC CHIBỐN QUẢ CHỨNG THIỀN ĐỊNH ).

Một số sinh bào thai
Kẻ ác sinh địa ngục
Người thiện lên cõi trời
Vộ lậu chứng Niết Bàn.

📝 Đức Phật dạy có bốn thế giới tâm thức ở trong thân tâm của chúng ta. Nếu thân - khẩu - ý còn tạo nghiệp tham - sân - si thì sẽ dẫn đến tái sinh luân hồi của thân đời sau. Nếu thân - khẩu - ý tạo nghiệp sát sinh, gian tham trộm cắp… thì thân đời này và đời sau chịu nhiều quả khổ địa ngục. Nếu thân - khẩu - ý giữ gìn các giới hạnh thanh tịnh, tu tập các pháp quán Từ Bi Hỷ Xả thì sẽ được sống trong thiên giới, cõi trời. Còn nếu thân - khẩu - ý đoạn diệt tham - sân - si - mạn - nghi sẽ được hóa sinh vào Niết Bàn, chấm dứt sinh tử, luân hồi. ( Quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM VÔ LẬU CHỨNG NIẾT BÀN ).

Như chiếc chuông bị bể
Tự mình giữ yên lặng
Người đã chứng Niết Bàn
Tự mình không sân hận.

📝 Chiếc chuông bị bể không còn nghe được tiếng. Cũng vậy, người có tâm bất động giải thoát Niết Bàn thì không còn phiền não than vãn khổ với ai điều gì.

Chư Phật thường giảng dạy
Nhẫn, khổ hạnh tối thượng
Niết Bàn, quả tối thượng
Xuất gia không phá người
Sa môn không hại người.

📝 Đức Phật dạy chúng ta có bốn điều lợi ích:

+ Người tu tập đức kham nhẫn, dù thân này chịu nhiều khổ đau bệnh tật, nhưng tâm vẫn hoan hỷ bất động.

+ Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát hạnh phúc nhất, không còn tái sinh luân hồi

+ Người xuất gia không còn ràng buộc nhân quả gia đình, đời sống trắng bạch như vỏ óc, phóng khoáng như hư không, nên không còn làm cho ai đau khổ nữa.

+ Sa môn là bậc sống Phạm hạnh, giữ gìn các giới luật thanh tịnh, nên không còn làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài chúng sinh.

Đói khát, bệnh tối thượng
Các hành, khổ tối thượng
Hiểu chơn thực như vậy
Niết Bàn, lạc tối thượng.

📝 Đói khát là một trong những khổ đau lớn nhất của thân bệnh. Đói khát có thể làm cho con người đánh mất những đức tính cao đẹp và tạo ra nhiều nghiệp xấu như giành giật, trộm cắp và giết hại lẫn nhau.

📝 Đức Phật dạy các hành là vô thường, vô thường phải chịu khổ. Ví như lúc chúng ta còn trẻ, thân ta được nhiều sức khỏe và sắc đẹp, nhưng theo năm tháng vô thường thì thân này già yếu, xấu xí, phải chịu nhiều vất vả, khổ sở. Hoặc ta sống với người thân yêu hạnh phúc, khi vô thường hết duyên, họ không còn ở bên ta nữa, lúc ấy chúng ta đối diện sự đau khổ bị mất người thân… Tất cả vạn vật trong vũ trụ này đều thuận theo quy luật vô thường mà dẫn đến khổ đau.

📝 Chỉ có Niết Bàn là trạng thái bất động giải thoát bất diệt, không còn bị ràng buộc nhân quả vô thường khổ đau nữa.

Vô bệnh, lạc tối thượng
Biết đủ, tiền tối thượng
Thành tín, bạn tối thượng
Niết Bàn, lạc tối thượng.

+ Người không có bệnh tật thì thân tâm luôn an lạc. Nên có câu “sức khỏe là vàng”.

+ Người sống biết đủ thì đồng tiền trở nên cao thượng, biết làm những việc tốt, chia sẻ vật chất đến với những người kém may mắn.

+ Người có uy tín trung thực luôn là người bạn lành cho ta tin tưởng.

+ Tất cả những hạnh phúc niềm vui ở đời là tương đối, hữu hạn, vui ít khổ nhiều. Còn Niết Bàn là trạng thái hạnh phúc vĩnh hằng, dù sống trong cảnh khổ mà tâm vẫn an nhiên giải thoát, giống như hoa sen tinh khiết giữa bùn nhơ.

Những người thường giác tỉnh
Ngày đêm siêng tu học
Chuyên tâm hướng Niết Bàn
Mọi lậu hoặc được tiêu.

📝 Người siêng năng trong chánh niệm tỉnh giác là người luôn kiểm soát thân, khẩu, ý của mình, nếu có bị ai mắng chửi, đối xử không tốt với mình, nhưng tâm mình luôn hỷ xả cho họ, không buồn khổ, oán trách họ. Ai có tâm buông xả như vậy thì tâm đó là Niết Bàn. Người đó không còn bị lậu hoặc tham – sân – si - mạn - nghi chi phối nữa.


Tự cắt dây tình ái
Như tay bẻ sen thu
Hãy tu đạo tịch tịnh
Niết Bàn, Thiện Thệ dạy.

📝 Đức Phật dạy ái dục là nguyên nhân tạo ra nhân quả sinh tử luân hồi. Ai đoạn dứt được ái dục thì nghiệp khổ luân hồi chấm dứt.

Biết rõ ý nghĩa này
Bậc trí lo trì giới
Mau lẹ làm thanh tịnh
Con đường đến Niết Bàn.

📝 Người giác ngộ ra ý nghĩa này thì tâm trở nên nhàm chán ái dục ở đời, và luôn tầm cầu con đường giác ngộ giải thoát Niết Bàn.

Tỷ kheo tát thuyền này
Thuyền không, nhẹ đi mau
Trừ tham, diệt sân hận
Tất chứng đạt Niết Bàn. 

📝 Tỳ kheo tát thuyền là người siêng năng tu tập Từ Bi Hỷ Xả, nhằm diệt trừ nghiệp khổ như: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, cầu bắt đắc khổ, oán tăng hội khổ, và ngũ uẩn xí thạnh khổ. Hằng ngày tinh tấn tác ý xả tâm tham - sân - si thì hiện tại được an lạc Niết Bàn.

Không trí tuệ, không thiền
Không thiền, không trí tuệ
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết Bàn.

📝 Người có trí là người giác ngộ Chân lý Tứ Diệu Đế, các pháp hành trợ đạo (trong 37 phẩm trợ đạo), và ba pháp quán Vô Thường, Khổ và Vô Ngã.

📝 Người có thiền là người tinh tấn chánh niệm, tu tập như lý tác ý theo các pháp hành trợ đạo để đoạn diệt phiền não tham sân si mạn nghi.

📝 Pháp Phật không khó tu, nếu biết giác ngộ ra ba pháp quán: vô thường, khổ và vô ngã, thì dù nhân quả tốt xấu nào có xảy ra, hành giả nương theo ba pháp quán trên để tác ý xả tâm thì ngay đó được giải thoát Niết bàn. Cho nên, Phật nói “Pháp Ta thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Tất cả pháp đều do tâm tạo, tâm thanh tịnh rồi thì phiền não sạch trong.


Thích Bảo Nguyên


P/S: Để hiểu rõ hơn về bài viết này, quý Phật tử nghe thêm pháp thoại TÂM BẤT ĐỘNG LÀ NIẾT BÀN.


Nguồn: www.facebook.com/ThichBaoNguyen.Info

Wednesday, January 16, 2019

ÁI KIẾT SỬ



"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác,
Yêu không gặp là khổ
Oán phải gặp cũng đau.

Do vậy chớ yêu ai
Ái biệt ly là khổ.
Những ai không yêu ghét.
Không thể có buộc ràng."


(Kinh Nikaya Pháp Cú: XXI: Piyavagga: Phẩm Hỷ Ái (210- 211)


Thưa các bạn thân mến!

Những lời dạy này của Đức Phật, đã nhắn gửi đến chúng ta rằng: cuộc đời mà chúng ta hiện đang sống và thở là một thế giới đương đại đầy những niềm đau và nỗi khổ, đầy máu lửa, đau thương, nước mắt, đầy những phân hóa hỗn tạp, hận thù đảo điên.

Vì vậy, chúng ta đang được sống làm người là những chuỗi ngày dài vô tận đang ở trong một cái bể sầu khổ rơi đầy nước mắt. Nếu chúng ta có thiện duyên được gặp minh triết chân lý lẽ phải của nền đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ mình khổ người, khổ chúng sanh thì cuộc đời của mỗi chúng ta sẽ được soi sáng, tươi vui, an lành, hạnh phúc mỗi ngày.
Nên những lời dạy này của Đức Phật đã khuyên nhủ và nhắn gửi đến chúng ta chớ gần gũi người yêu, bởi vì khi chúng ta vô minh để được thương yêu. Chúng ta nào biết đằng sau sự cảm giác lạc thú ấy là biết bao nhiêu hậu quả đau thương ê chề khốn đốn mà ta phải gánh chịu và đón nhận tất cả.

Vợ chồng con cái là những cái nhà tù chung thân chôn vùi cuộc đời xanh tươi trong trắng của đời ta. Là những ảo ảnh màu hồng, là những bông bóng nước vỡ tan khi có những giông bão đi qua. Vì vậy chúng ta hãy luôn có chánh tri kiến trong khi ta đang yêu thương.

Chúng ta hãy có cái nhìn hiện thực về cuộc sống. Hãy nhận diện đâu là con đường thoát khổ và đâu là con đường vướng mắc trói buộc của khổ đau. Những giây phút ảo tưởng về chân trời hạnh phúc màu hồng trong khi gần gũi người yêu ấy. Đã làm choáng ngợp biết bao tâm hồn mê muội đắm đuối mê ly. Trừu tượng ảo giác về cuộc sống lý tưởng "một mái nhà tranh với hai quả tim vàng".

Đó là những gì chúng ta lý tưởng hóa xây mộng đẹp bằng ảo mơ vô vọng về ái tình tuyệt vời như mộng huyễn nhưng thực tại nó không phải vậy? Nếu chúng ta chui đầu vào mái nhà tranh với hai quả tim vàng đó, thì ta sẽ nếm được mùi vị đắng cay của ái tình khổ lụy sầu đau ấy. Và ta sẽ phải lãnh đủ những chuỗi tháng ngày dài bất tận trong trái tim ngục tù.

Cái gọi là "lâu đài tình ái" ấy chẳng qua chỉ là một nhà tù mà thôi. Một nhà tù sơn son thếp vàng đề bốn chữ "lâu đài tình ái" khi cưới nhau chúng ta xây cho nhau những nhà tù. Ban đầu thì ôi thôi rất tuyệt đẹp. Sau đó rã ra những chất sơn thếp rốt cuộc chúng hiện nguyên hình là những nhà tù có những song sắt rất lớn cả hai đều kẹt cứng không thể nào thoát ra được.

Đám cưới có thể là một tờ giao kèo ở tù chung thân mà dù có vùng vẫy cách mấy ta cũng không thoát ra được, khạc đã không ra, mà nuốt cũng không vào, nhìn xung quanh chúng ta sẽ thấy rất nhiều trường hợp như vậy, ly dị không được, mà không ly dị cũng không xong.

Điều này không những đúng trong trường hợp: người tình với người tình, cha và con, mẹ và con, bạn và bạn, chị và em, thầy và trò hay trò và Thầy, v.v... Vì vậy cho nên chúng ta hãy thương làm sao để cho người kia còn có tự do, để cho người kia còn là người kia và để cho ta còn được là ta, thương mà còn có tự do thì tình thương ấy mới gọi là tình thương chân chánh có đạo đức.

Đôi khi ta phải tự hỏi chính ta và ta phải tới hỏi người kia "Này anh, trong tình thương của tôi có tính chất độc tài không? Có tính chất chiếm hữu không? Có tính chất vướng mắc không? Có tính chất áp đặt không? Khi tôi thương anh, tôi có làm cho anh đau khổ hay không?" Nếu chúng ta hỏi được câu đó thì ta đã có can đảm và gan dạ: "Này em, em có khổ đau vì cách tôi thương em hay không?".

Cha cũng phải hỏi con câu đó, mẹ cũng phải hỏi con câu đó, thầy cũng phải hỏi trò câu đó, chị gái cũng phải hỏi em trai câu đó mà em gái cũng phải hỏi anh trai câu đó, đệ tử cũng phải hỏi sư phụ câu đó, người yêu cũng phải hỏi người yêu câu đó: "Này anh tình thương của em có phải là cái nhà tù của anh hay không?".

Thế nên, Đức Phật đã nhắn nhủ với chúng ta

"Chớ gần gũi người yêu"

Là vậy đó, gần gũi lâu ngày là sẽ phát sinh các dữ kiện: độc tài vướng mắc, chiếm hữu, gần gũi lâu ngày cỏ rơm cũng phải cháy khô và lúc bấy giờ sẽ chẳng còn nước đâu mà dội tẩm cho mau nguội lạnh được. Khi chúng ta đang yêu thương mà không được gặp, không được nhìn thấy người yêu, thì ôi chao ơi! Là quá khổ sở, khổ ê chề, khốn đốn, tâm hồn ta quên ăn, quên ngủ, héo hắt, xác xơ vì nhớ người yêu da diết.

Nên Nguyễn Du trong thơ Kiều đã nói lên tâm trạng ấy: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Vậy mà không được gặp, không được nhìn thấy nhau, không được gần gũi bên nhau, thì đó là những nỗi cơ hàn, lạnh lẽo buốt giá, những nỗi buồn vu vơ nhớ trăng, thương gió buồn tủi sầu lụy của con tim đang chờ đợi thương nhớ mong mỏi da diết. Nên Đức Phật dạy:

"Yêu không gặp là khổ"

Vì trái tim đang chờ đợi trông ngóng người mình thương, chỉ cần nhìn thấy người thương một chút xíu thôi cũng đỡ nhớ thương rồi. Tâm hồn của chúng ta quá khổ đau trong khi đã biết yêu thương đó là những hạt giống của nguyên nhân tái sanh luân hồi nếu ta yêu thương mà làm khổ mình nhiều như vậy thì thà rằng đừng yêu cho xong. Vì khi thương ta muốn có hạnh phúc cho ta và cho người ta thương nếu tình thương bi lụy sầu khổ kéo theo những bi kịch thì thương làm gì?

Thà rằng không thương cho xong, chúng ta hãy thương như thế nào đó để ta còn là ta, để ta còn giữ được cái không gian của ta và người ta thương cũng giữ được cái không gian của người ấy. Thương mà không có đạo đức là ta đem khổ đau cho chính ta và cho người ta thương. Và gây thương tích cho chính mình. Chúng ta hãy luôn có chánh tri kiến và phải tự hỏi chính mình rằng: "là tình thương của ta có tính chất độc tài chiếm hữu và vướng mắc hay không?"

Ngay tình cha với con cũng vậy. Cha có thể nghĩ rằng con là vật sở hữu của mình: "Mày là con tao, vì vậy mày phải nghe lời tao, mày chỉ được học cái này, làm cái này và chơi cái này thôi, nếu mày không học cái này, không làm cái này, không chơi cái này thì mày không phải là con tao. Tao sẽ từ mày". Đó là tình thương độc tài có chiếm hữu áp đặt.

Hoặc ghét bỏ người con: "Mày đi đâu thì đi, mày không dính dáng gì đến tao nữa, mày không phải là con tao". Đó là tình thương độc tài áp đặt ghét bỏ.

Còn người tình thì nói với người tình: "Em không được đi chợ giờ đó, em không được mặc áo màu đó, em không được bôi thứ nước hoa đó". Đó là tình thương độc tài có chiếm hữu; còn em gái thì nói với anh trai: "Anh không được ở đó lâu phải về thăm nhà mau, nếu anh không về thì em sẽ đi đến chỗ ấy. Anh không được làm cái này, anh không được làm cái kia v.v…". Đó là tình thương độc tài áp đặt chiếm hữu và vướng mắc.

Đệ tử thì nói với sư phụ: "Sư phụ không được nói chuyện nhiều, không được nói với cô đó, chị đó, anh đó, em đó mà sư phụ phải nói cái này, chứ không được nói cái kia v.v…". Đó là tình thương có sự chiếm hữu độc tài và vướng mắc, áp đặt.

Vướng mắc là bản chất của tình thương khổ lụy. Tình thương mà Đức Phật muốn chúng ta thương yêu là tình thương không khổ lụy, không vướng mắc. Có người hỏi nếu tình thương không vướng mắc thì đâu phải là tình thương? Đó là tại vì ta chưa thấy được bản chất của tình thương đích thực. Trong mỗi chúng ta đều có khuynh hướng thương vướng mắc, độc tài chiếm hữu. Người trẻ cũng vậy mà người già cũng vậy, chị em, hay anh em ruột thịt cha và con, mẹ và con, thầy và trò, trò và thầy v.v… đều có khuynh hướng ấy, có nguyên do ở ngã chấp và vô minh. Vô minh và ngã chấp ấy đã trở thành câu sinh, nghĩa là khi sinh ra đã có như vậy rồi.

Thành thử ra khi thương một người, ta có khuynh hướng chiếm hữu người đó. Ta nói: "Người đó là người thương của tôi, anh không được đụng tới chị không được đụng tới", khi ta được thương ta cũng có khuynh hướng đó. Ta muốn rằng ta là đối tượng duy nhất của tình thương kia, người ấy đã thương mình rồi thì không được thương người nào khác nữa. Tình thương ấy có chất liệu của sự vướng mắc, của sự chiếm hữu, khi thương ta có khuynh hướng chiếm hữu người ta thương, ta nói: đây là "ta" và đây là "của ta" (ngã và ngã sở) tình thương ấy có tính chất độc tài.

Độc tài nghĩa là tôi thương anh thì tôi muốn anh không được thương người khác, không được làm cái này, không được làm cái kia, chỉ được làm theo ý muốn của tôi mà thôi. Tình thương bi lụy sầu khổ là sẽ có tính chất chiếm hữu độc tài và có nhiều vướng mắc.

Đôi khi trong tình đồng đạo cũng có một chút ít sự độc tài, vướng mắc và chiếm hữu ấy. Nếu có chút ít thì không sao, nhưng nếu mức độ ấy mà lên cao thì nó bắt đầu tạo khổ đau cho người thương và cho người được thương.

Chúng ta biết rằng trong thế gian có biết bao nhiêu bi kịch đã và đang xảy ra. Tại vì loại tình thương vướng mắc đó. Một mặt chúng ta thấy rằng: không có tình thương thì đời sống rất đau khổ, và mặt khác nếu tình thương độc tài vướng mắc và chiếm hữu thì cuộc đời cũng rất khổ đau. Phải không hỡi các bạn?

Cho nên thương nghĩa là hiến dâng hạnh phúc, thương không có nghĩa là nhốt người kia vào nhà tù chiếm hữu, người kia muốn đi đâu cũng không được, muốn làm gì cũng không cho, bị trói buộc, thành thử không có tự do, không có không gian để người kia được thở và nếu người kia không làm theo ý muốn của ta, thì ta rất đau khổ, trách móc giận hờn, ghét bỏ. Vì ta đã có tình thương độc tài, chiếm hữu, vướng mắc nên khi người kia không đồng ý là ta rất khổ đau.

Vì vậy người kia phải có can đảm đi và gan dạ nói rằng: "Này em, tôi rất đau khổ trong tình thương của em, em đã thương tôi bằng quá nhiều tính chất của sự vướng mắc, chiếm hữu và độc tài áp đặt. Tôi đã mất hết tự do, tôi ngột ngạt, bế tắt, tắt nghẻn sự sống, tôi không còn là tôi nữa. Em có hiểu biết điều đó chăng? Vì vậy tôi và em phải thấy rõ niềm đau và nỗi khổ của chúng ta, chúng ta phải ngồi lại để tìm ra một con đường có thể đem lại an bình và hạnh phúc cho cả hai ta".
Nếu nói không được, ta phải viết thư, có thể ta nên đi xa người ấy một tuần lễ, hay hai tuần lễ và trong hai tuần lễ đó ta viết một lá thư gửi về cho người ấy. Người ấy sẽ có không gian đọc để suy ngẫm và quán chiếu lại tình trạng đó, không có lý do gì mà cả hai cùng phải tiếp tục kéo lếch theo một tình trạng vướng bận và bi lụy như vậy.

Chúng ta hãy biết rằng: phải thoát ra khỏi hai cực: một cực là "vướng mắc" và một cực là "ghét bỏ". Ta bây giờ như con chim trong lồng, như một người tù trong ngục. Ta phải biết rằng muốn thoát ra khỏi vòng trầm luân đó, là phải cố gắng tu tập giải thoát cho mình, và giải thoát cho người thương của mình.

Tốt hơn hết lúc ban đầu, "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" chúng ta phải cẩn thận, thường thường tình thương lúc ban đầu có tính cách phơi phới khi đã đi sâu vào trầm luân rồi ta mới giật mình tỉnh thức, lúc đó có thể là đã rất trể. Ta có thể vùng vẫy muốn thoát ra và từ cực vướng mắc đi sang cực ghét bỏ. Ta nghĩ rằng khổ như thế này thì chỉ có cách lìa thoát người kia. Ly khai với người kia, đi xa người kia, tại vì còn sống chung một nơi thì còn phải trầm luân, còn phải vướng mắc.

Từ cực này ta đi sang cực khác cả hai cực đều không phải tình thương chân thật. Có khi ta đang vùng vẫy giữa hai cực. Ngày nào cũng là địa ngục hết. Một mặt chúng ta vùng vẫy, muốn thoát nghĩ đến chia tay với người kia. Hoặc đi đâu đó xa xôi cách trở không bao giờ còn thấy người đó. Một mặt chúng ta vẫn còn có chút ân tình với người đó nghĩ rằng nếu không có ta thì người đó sẽ mất chân đứng.

Ở Việt Nam ta thường nói: "Bỏ thì thương, sương thì nặng", sương nghĩa là gánh. Có rất nhiều người đang bị kẹt cứng trong tình trạng đó. Thấy người kia cũng tội nghiệp, bỏ thì không đành mà tiếp tục thì không tiếp tục nổi. Vậy đâu là con đường thoát? Con đường thoát là con đường phải cố gắng nỗ lực tu tập để thoát khổ của hai cực là "vướng mắc và ghét bỏ".

Thế nên Đức Phật rất cảm thông sâu sắc những tâm lý tình cảm của mỗi chúng sanh, chính là những di chứng của cái bể sầu khổ lụy trầm luân muôn ngàn kiếp đau thương ê chề gia đình, anh em, chị em, vợ chồng, con cái là những sợi dây ái kiết sử trầm luân nên Đức Phật đã nhắn nhủ:

"Các con hãy xa lìa nội tâm ái dục đi, các con hãy đoạn trừ tâm cấu uế ái dục thì mới chấm dứt trầm luân khổ đau".

Vì vậy Đức Phật mới khuyên dạy chúng ta:

"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác.
Yêu không gặp là khổ.
Oán phải gặp cũng đau".
Do vậy, cuộc đời mỗi chúng ta khi đã chấp nhận đi theo lộ trình giải thoát của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì phải đoạn trừ, xa lìa tâm luyến ái vấn vương này. Đó chính là mục đích tối thượng nhất mới chấm dứt hết đau khổ sanh tử luân hồi; đó mới chính là lời dạy này:

"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác"

Thưa các bạn! Những kẻ ác độc, những kẻ đại tiểu nhân thì chúng ta hãy nên tránh xa họ, vì chúng ta đang còn trên đường tu tập, nên chúng ta phải tránh né, phải cố gắng tạo duyên cảnh thuận lợi để được tu, chứ không nên lân cận với những kẻ tiểu nhân, vì lân cận với những kẻ tiểu nhân thì ta rất khó tu tập. Khi nội tâm còn rất non yếu, chưa đủ ý thức lực nội tại vững mạnh thì tốt nhất phải nên xa lánh những kẻ ác.

Chỉ khi nào tâm của chúng ta có đủ nội lực bén nhạy vững chãi thì lúc đó hãy nương vào tri kiến giải thoát, lấy đối tượng nghịch cảnh kia để xả tâm, tùy theo duyên nhân quả của mình mà chiến thắng quân ma ác pháp. Những lời dạy này của Đức Phật đã nhắn gửi đến chúng ta, Các bạn nhớ mãi đừng quên nhé!

"Chớ thân với bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thượng nhân"

(Kinh Nikaya Pháp Cú: II Panditavagga: Phẩm Hiền Trí (78.)

Khi đã có sự cừu oán với nhau rồi, chúng ta không thể ngồi chung bàn được, cả hai đều phải cởi bỏ sự thù oán bên trong nội tâm, phải nhận diện thông suốt lý nhân quả và nguyên nhân sự hận thù đó bắt đầu từ điểm nào khởi sự. Chúng ta hãy có chánh tri kiến chuyển hóa nhân quả của chính mình. Nhân quả do chính thân, khẩu, ý của chúng ta tạo thành, nên mọi sự hận thù cừu oán phải tự chính mình hóa giải tìm nguyên nhân phát sinh nên sự khổ đau ấy. Phải không hỡi các bạn?

Đức Phật dạy:

"Chớ nói lời thô ác.
Nói ác bị nói lại Khổ thay lời thù hận.
Hình phạt tất đến thân".
(Kinh Nikaya Pháp Cú: X: Dandavagga: Phẩm Đao Trượng (133.)

Thưa các bạn, những lời Phật dạy này đã gửi đến chúng sanh những ân đức rất thâm sâu vô cùng cao quý, biết bao nguồn năng lượng yêu thương của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thương xót nhân loại, đang chìm đắm trong biển khổ ái dục. Người đã thấu rõ mọi ngõ ngách tâm niệm và nỗi khổ của chúng sanh. Người đã trao gởi nhắn nhủ những lời rất tha thiết thương yêu cho mỗi chúng ta trên đường tu tập. Cho nên mọi người hãy nên lánh xa, buông xả những cạm bẫy ái tình đầy những niềm đau và nỗi khổ.

"Do vậy chớ yêu ai.
Ai biệt ly là khổ.
Những ai không yêu ghét.
Không thể có buộc ràng".

Vì vậy trên đường tu tập chúng ta chớ có yêu ai, chớ có vấn vương tình cảm một ai, chớ có để ý làm duyên, làm dáng với một ai, vì ái biệt ly là khổ. Một khi ta đang yêu thương người ấy, mà bỗng nhiên ta phải xa lìa người ấy hay bỗng dưng người ấy giã từ cuộc đời này, ra đi, biệt ly mãi mãi không quay về nữa (chết đột ngột) thì chúng ta sẽ rất khổ đau.

Bởi vì yêu là một tai nạn thương tích rất nặng trên đường tu tập. Cuộc đời chúng ta sẽ dở dang lở đời lở đạo, lở hiếu hạnh với cha mẹ. Ta đứng giữa ngã ba đường, bước tới không được, bước lui cũng không xong, dở sống dở chết. Rất đáng thương cho những người con đang có những tâm tư tình cảm như vậy, đang có những trăn trở nỗi khổ và niềm đau ấy.

Nên trái tim chúng tôi rất cảm thông, chúng tôi chỉ còn có một tâm nguyện mong sao các bạn cố gắng tu tập vượt thoát dòng sông ái dục mê muội đang cuồn cuộn chảy xiết, giữa sóng gió ba đào. Các bạn hãy cố gắng, và hãy cố gắng vượt lên…

Vì vậy, yêu và ghét là một tình trạng hiện thực rất tự nhiên trong mỗi con người. Chính đó là quy luật tự nhiên của quá trình duyên hợp của nhân quả. Nên chúng ta hãy cố gắng tu tập để chuyển hóa và giải tỏa mọi tâm lý tình cảm thương ghét của thất tình lục dục:

"Có vui mừng: hỷ
Có bực tức: nộ
Có yêu thương: ái
Có căm ghét: ố
Có lo buồn: ai
Không bệnh tật: lạc
Có tham dục: dục".

Hễ còn thương là còn ghét, hễ hết thương là hết ghét. Hết thương hết ghét là chấm dứt mọi sự khổ đau, tái sanh luân hồi. Vì vậy, khi gặp nghịch cảnh, chướng duyên đến, chúng ta cảm thấy tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự thì biết rằng: tâm của chúng ta đã có tiến bộ nhiều, giảm sút yêu và ghét, như vậy nội lực có mạnh hơn lên.

Khi cảm thấy tâm an lành trước mọi chuyện xảy đến mà tâm điềm đạm bình tĩnh không lo lắng sầu muộn, không chấn động rộn ràng. Lại còn có chánh tri kiến nhìn thấy các sự kiện xảy ra xung quanh ta đang sống đều do luật nhân quả tạo thành và tác động. Luật nhân quả tạo thành và tác động, cũng chỉ vì chúng ta đang còn sống trong vòng tay nhân quả. Do biết chủ động điều khiển nó, chính là không để cho nhân quả chi phối tâm ta. Muốn không để cho nhân quả chi phối tâm ta, là phải cố gắng làm chủ thân, khẩu, ý của mình.

Mỗi lời nói ra đều phải có chánh tư duy nên ta không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Mỗi khi muốn làm một điều gì đó, thì các bạn đừng vội vàng mà hãy chánh tư duy và tự hỏi: cái mà các bạn muốn làm có tốt không? Có thiện không? Khi đã chánh tư duy xong mới bắt đầu nói, hay làm, và như vậy bạn sẽ không làm khổ mình khổ người.

"Những ai không yêu ghét
Không thể có buộc ràng"

Đúng vậy, nếu chúng ta có chánh tư duy mỗi ngày thì sẽ không làm khổ một ai cả. Trong mỗi hành động tâm tư và ngôn ngữ ta đều có suy xét kỹ nên nói hay không nên nói? Nên chúng ta làm chủ nhân quả của thân, khẩu, ý. Giáo lý cốt lõi cơ bản của Đạo Phật chỉ có bấy nhiêu đó thôi, tức là tu tập làm chủ "thân khẩu ý" cho được thanh tịnh.

Mỗi một ngày chúng ta cố gắng tu tập làm chủ thân, khẩu, ý nên ta không yêu ghét, không có buộc ràng nên ta không đau khổ. Nếu chúng ta biết điều phục buông xả những tâm niệm thói quen tật xấu trong ta thì chúng ta đã lần lần chuyển hóa nhân quả.

Sự công phu tu tập nào cũng vậy, cũng phải đòi hỏi sự nhiệt tâm tinh cần mỗi ngày siêng năng bền chí tập luyện trau dồi tinh chuyên thì mới có kết quả năng lực nhạy bén nhanh chóng để làm chủ thân khẩu ý. Vì vậy chúng ta hãy cố gắng nỗ lực tu tập để làm chủ mọi hành động tâm tư ngôn ngữ của chính mình. Thì ta sẽ không còn yêu ghét buộc ràng khổ đau nữa. Phải không hỡi các bạn?

Con đường hết đau khổ là con đường thiện, bờ bên kia, con đường đau khổ là con đường ác, bờ bên này. Và ai muốn chấm dứt khổ đau thì chọn đường thiện, ai muốn khổ đau thì chọn đường ác.

Lộ trình của đau khổ là bờ bên này. Lộ trình hết đau khổ là bờ bên kia. "Tà" là đau khổ, "Chánh" là hết đau khổ; "ác" là đau khổ, "thiện" là hết đau khổ; "yêu ghét" là đau khổ, "không yêu ghét" là hết đau khổ. Bờ bên kia là đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh. Còn bờ bên này là vô đạo đức, sống thường làm khổ mình, khổ người khổ chúng sanh.

Giáo lý tinh hoa của nền đạo đức văn hóa Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ có bấy nhiêu đó thôi mà chúng ta tu hoài, tu mãi 10 năm 20 năm hay 30, 40 năm qua, mà vẫn chưa buông xả được yêu và ghét.

Nhiều kiếp đã trôi lăn trong vòng lục đạo tử sinh luân hồi, khổ lên, khổ xuống, bầm dập lỡ làng, quằn quại đau thương trần ai, quá ư là khổ sở ê chề, mà vẫn chưa xả ly được yêu và ghét. Nên ta bị buộc ràng khổ đau úa tàn héo hắt xác xơ cả xác thân lẫn tâm hồn tiều tụy lụi tàn, băng hoại vì thiếu chánh tri kiến và tấm lòng nhiệt huyết của con tim vì thiếu sự bền chí gan dạ tu tập. Nên ta đã bị vướng mắc và trói buộc trong "yêu và ghét".

Vì vậy chúng ta hãy cố gắng tu tập làm sao để vượt thoát lộ trình đầy đau khổ này: "yêu và ghét". Để cho tâm hồn và trái tim ta còn được một chút xíu thanh thản, an lạc và vô sự, không còn trói buộc vướng mắc trong yêu và ghét này nữa. Phải không hỡi các bạn?

Đọc đoạn kinh trên đây. Những lời dạy này của Đức phật chúng ta xét thấy sự giải thoát của Phật Giáo rất rõ ràng cụ thể dễ dàng không có khó khăn. Bởi vì chúng ta cần có chánh tri kiến hiểu biết thiện và ác là giải thoát ngay liền, như ở bên bờ này, liền qua bờ bên kia, không có khó khăn, không có mệt nhọc.

Chỉ có những ai quyết tâm tìm cầu một cuộc sống an lành, hạnh phúc thì sự giải thoát ở ngay trong tầm tay. Đó là sự rốt ráo tận cùng của Đạo Phật, nhưng phải thông hiểu chữ "yêu và ghét" như thế nào để biết mà giữ gìn tu tập và sống cho đúng nghĩa của nó, thì ước vọng của các bạn sẽ thành hiện thực trong đời nay.

Thân ái chào các bạn, chúc các bạn thành công trên đường tu tập.

(Bài Viết Của Tu Sinh Chơn Như)

Wednesday, May 30, 2018

Tu Theo Pháp Phật Dạy



Pháp thoại: Tu Theo Pháp Phật Dạy
Bài số: 40
Album: Pháp Sơ Thiện 2018
Giảng ngày: 29/05/2018, nhằm ngày 15 tháng 04, năm Mậu Tuất
Nơi giảng: Tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Phật tử vấn đạo: Phật tử ở Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
Ngày cập nhật: 31/05/2018

Sunday, May 13, 2018

ĂN UỐNG TRONG ĐẠO PHẬT: CÓ 4 THỨC ĂN


Pháp thoại: Phật Dạy Ý Nghĩa Bốn Thức Ăn
Bài số: 26.01
Album: Tri Kiến Xả Tâm 26
Giảng ngày: 19/02/2016
Nơi giảng: Phường Đống Đa, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Phật tử vấn đạo: Quý Sư cô và Phật tử
Ngày cập nhật: 06/03/2016
 

Sách nói: LỜI PHẬT DẠY - biên soạn: Thích Tánh Trí

Sách nói LỜI PHẬT DẠY do Đại đức Thích Tánh Trí biên soạn, qua hai giọng đọc phật tử Chúc Sen và Thiện Nghĩa. Ước nguyện LỜI PHẬT DẠY...