Showing posts with label Thầy Thông Lạc. Show all posts
Showing posts with label Thầy Thông Lạc. Show all posts

Sunday, May 6, 2018

GIỚI HÀNH NHÃN THỨC



Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống GIỚI HÀNH NHÃN THỨC nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới đức, giới hạnh và giới hành của nó. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của giới hành nhãn thức là gì?
Giới đức, giới hành nhãn thức là những lời dạy đạo đức về đời sống của con người tức là Chánh nghiệp.
Giới hạnh, giới hành nhãn thức là những lời dạy về Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua giới hành nhãn thức như: nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được gọi là Chánh nghiệp.
Trên đây, chúng ta đã học về Giới hành nhãn căn. Giới hành sắc trần và tiếp đến là Giới hành nhãn thức. Vậy giới hành nhãn thức như thế nào?
Trước khi muốn tu học về giới hành nhãn thức thì chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy La Hầu La: “Này La Hầu La, con nghĩ thế nào, nhãn thức là thường hay là vô thường?
-        Bạch Thế Tôn, là vô thường.
-        Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-        Bạch Thế Tôn, là khổ.
-        Cái gì vô thường, khổ chịu sự biến hoại thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là bản ngã của tôi?”.
-        Thưa không vậy, bạch Thế Tôn”.
Đọc những đoạn kinh vấn đáp trên đây của đức Phật và La Hầu La chúng ta rút ra được một bài pháp tu học có hiệu quả xả tâm ly dục ly ác pháp diệt ngã, diệt tâm tham, sân, si, v.v.. dễ dàng, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức và kết quả giải thoát rất thực tế, rõ ràng, cụ thể.
Đoạn kinh này đức Phật đã xác định: “Nhãn thức (tánh thấy) là vô thường, là khổ là biến hoại, không thường hằng, di dịch, thường thay đổi”, không như Đại thừa và Thiền tông nghĩ nó là thần thức, là Phật tánh. Đoạn kinh này đã làm đảo lộn cái hiểu của Đại Thừa và Thiền tông mà từ xưa đến nay cho thấy cái nhãn thức này không phải là của ta, là ta, là bản ngã của ta. Sự thật nhãn thức này chỉ là do các duyên nhân quả tạo thành theo nghiệp lực của nó làm nên như trên đã nói. Đức Phật dạy: “Thân người do thừa tự của nghiệp mà có”, chứ nào phải đâu do một linh hồn hay một thần thức đi tái sanh luân hồi mà có.
Trong sắc uẩn gồm có sáu thức:
1/       Nhãn thức
2/       Nhĩ thức
3/       Tỷ thức
4/       Thiệt thức
5/       Thân thức
6/       Ý thức
Trong thân người nào cũng có đủ sáu thức này, nhóm sáu thức này có chung một cái tên gọi là sắc thức.
Nhóm sáu thức này còn gọi là sáu tên gác cửa thành. Sáu tên gác cửa thành này nó có quyền hạn rất lớn, muốn cho ai vào thành thì mới được vào, còn không muốn cho ai vào thì không ai được vào. Do có quyền hạn lớn như vậy nên đức Phật dạy chúng ta biết cách sử dụng sáu tên gác cửa thành này để ngăn cản không cho kẻ ác vào thành. Nhờ đó mà thành trì này được bình an, vô sự.
Chúng ta đọc lại đoạn kinh giới hành thứ 23, 24 tức là học về giới hành nhãn căn và giới hành sắc trần; học về giới hành nhãn căn tức là học về bản đồ của sáu cửa thành; học về giới hành sắc trần là học về sáu tên giặc ở bên ngoài thường hay vào thành khủng bố và xâm chiếm thành. Còn giới hành thứ 25 là học về sáu người lính giữ thành tức là sáu thức.
Ở những bài kinh trên đây cho chúng ta thấy biết rất rõ ràng: Thân chúng ta là thành; sáu căn là sáu cửa thành; sáu trần là sáu tên giặc; sáu thức là sáu người lính gác thành. Đó là một kịch trường của nhân quả tạo ra để chúng ta diễn tuồng thất tình lục dục, chứ chẳng có gì là chân thật là của chúng ta cả. Do vô minh mà chúng ta lầm chấp là có thật. Một trò ảo ảnh của nhân quả, thế mà loài người trên hành tinh này có mấy ai biết rõ ràng. Phải không các bạn?
Đây là vũ trụ quan của Phật giáo qua ba giới tượng trưng này: nhãn sắc giới” là con mắt tiếp xúc với sắc trần giới. Sắc trần là hình sắc, hình tướng của vạn vật, khi căn trần tiếp xúc nhau thì sinh ra cảm thọ mới sinh ra “sắc thức giới”. Có sáu thức mới có ái dục. Do căn, trần, thức họp nhau, nên gọi là lục nhập. Do lục nhập mà thế giới quan của Phật giáo mới hiện bày cả một sự khổ đau.
Cho nên, đức Phật dạy: Sáu căn, sáu trần, sáu thức, là vô thường, là khổ là biến hoại, chúng không phải là ta, là của ta, là bản ngã của ta”. Do sự thấu hiểu này ta mới biết rõ, đây là một trò ảo kịch của nhân quả. Do biết chúng là trò ảo kịch, chúng ta không chấp nhận. Vì thế, đối với chúng ta, chúng làm gì ta vẫn thản nhiên bất động. Ví như con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn mọi vật. Đó là cách thức yểm ly con mắt, yểm ly các sắc, yểm ly các thức, yểm ly các xúc. Muốn thấy rõ sự yểm ly, xin các bạn hãy đọc lại đoạn kinh Giáo Giới La Hầu La thì rõ: “Này La Hầu La, do thấy vậy vị đa văn Thánh đệ tử yểm ly con mắt, yểm ly các sắc, yểm ly nhãn thức, yểm ly nhãn xúc, do duyên nhãn xúc này được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy yểm ly luôn phóng khởi lên”.
Do lục nhập này ta không chấp nhận; ta không chấp nhận tức là yểm ly. Do sự yểm ly ta ly tham, ly sân, ly si; do ly tham ly sân, ly si mà ta được giải thoát khi tâm ly sạch tham, sân, si. Tự trong tâm sạch tham, sân, si thanh tịnh, là ta đã có sự hiểu biết rằng ta đã tu tập xong.
Trong sự giải thoát là có sự hiểu biết: “Sanh đã tận Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trong trạng thái này nữa”. Đến đây chấm dứt những bài kinh Giáo Giới La Hầu La. Nhưng nó là những giới luật căn bản nhất của người mới vào tu theo Phật giáo mà kết quả không thua kém bất cứ những vị Trưởng lão nào trong Phật giáo.
Nếu người mới vào tu theo Phật giáo mà không được hướng dẫn tu tập theo giáo pháp giới luật căn bản này thì không bao giờ tìm thấy sự giải thoát chân thật.
Dựa vào những lời dạy giới luật của đức Phật cho người Sa di đầu tiên trong Phật giáo (La Hầu La) chúng tôi biên soạn thành bộ Giới Hành Đức Thánh Sa Di để những người mới bước chân vào đạo Phật, ngay từ phút đầu tiên tu tập vẫn tìm thấy sự giải thoát thật sự.

Do bộ sách này được truyền thừa 2548 năm từ đất nước Ấn Độ. Khi truyền sang đến nước Việt Nam trên 2000 năm văn hiến của đất nước này, hôm nay được chúng tôi biên soạn thành một sách đạo đức Việt Nam lấy tên là VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TẬP I.

(Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống, T1)

Friday, May 4, 2018

GIEO DUYÊN THIỆN PHÁP


Phan Rang, ngày 22 tháng 10 năm 2009
NHÂN DUYÊN THIỆN PHÁP
Cư sĩ Nguyên Thủy vấn đạo
Hỏi: Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam mô Bổn sư Thích Thông Lạc!
Kính thưa Thầy!
Chúng con là nhóm Nguyên thủy xin phép làm phiền Thầy giây lát.
Đầu thư chúng con xin kính trình những hỷ sự, hỷ tâm của chúng con có được, mong sao những sự hỷ sự này sẽ lo cho Thầy bớt mệt mỏi, an ủi cho Thầy cũng còn có những đệ tự hiếu kính, vâng lời Thầy dạy bảo.
Thầy ơi! Hiện giờ đa số chúng con đã nhận rõ được nền đạo đức nhân bản - nhân quả quan trọng như thế nào cho đời sống của chúng con, chúng con đang áp dụng vào cuộc sống. Chúng con đều nhận rõ, thân tâm chúng con yên ổn, gia đình chúng con yên. Chúng con hiện nay có người thì trau dồi Từ tâm; có người thì trau dồi Bi tâm; có người trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm trên Thập thiện: Thân, Khẩu, Ý; có người tu Tứ Chánh Cần trên Tứ Niệm Xứ.
Nói chung chúng con đều được thân hành bớt thô lậu, khẩu hành bớt thô lậu, ý hành bớt thô lậu và chúng con trở thành những người thân thiện với môi trường sống.
Viết đến đây chúng con xin Thầy nhận ba lạy từ xa của chúng con, để gọi là lòng biết ơn vô hạn của chúng con dâng lên cho Thầy và cho cô Út.
Nếu không có sự dạy dỗ của Thầy, tìm nhiều phương tiện trình bày, khai thông đầu óc tăm tối của chúng con thì giờ đây chúng con cũng vẫn còn là những người vô minh đau khổ và trong đó cũng có sự trợ duyên của cô Út nhắc nhở, ghé thăm động viên những khi chúng con không chống nỗi dục lực thế gian.
Kính thưa Thầy! Quả thật Phật pháp khó hiểu, khó hành. Chúng con gần 10 năm kể từ ngày gặp Thầy đến nay, giờ thì chúng con mới hiểu, giờ đây chúng con không còn tin vào mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình nữa; chúng con không còn tin vào đầu óc tự cho là thông minh của chúng con nữa. Giờ thì chúng con chỉ tin vào Giới Hạnh, Đức Hạnh của Phật và Thầy, lấy Giới Hạnh, Đức Hạnh để làm chủ thân tâm mình, để làm thầy thân tâm mình, để điều khiển thân tâm mình. Chúng con không chịu để cho nhân quả dẫn dắt nữa và chúng con đã thấy được sự làm chủ chút ít.
Nhưng nhìn lại vẫn còn một số anh chị em trong nhóm chúng con bị nghiệp dẫn dắt, còn chung quanh mọi người trong gia đình và xã hội cũng đang bị nghiệp dẫn dắt, xúi dục, hành trong ác pháp đau khổ vô cùng. Chúng con xót thương vô hạn mà không biết cách gì giúp được, chúng con nghĩ chỉ có Thầy mới giúp được mà thôi. Cho nên, chúng con xin làm phiền Thầy. Xin Thầy từ bi giúp chúng con trả lời những câu hỏi sau đây:
1-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì mới gặp được CHÁNH PHẬT PHÁP ngay trong hiện tại?
2-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì mới gặp được MINH SƯ và gần gủi lâu dài?
3-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì mới hiểu được CHÁNH PHÁP?
4-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì mới hành đúng CHÁNH PHÁP hợp với đặc tướng của mình để mau chóng có kết quả?
5-       Chúng con xin Thầy những tiêu chuẩn và trạng thái THÂN TÂM như thế nào mới vào gần gủi MINH SƯ để chuyên tu được, để chúng con không còn bị tưởng đánh lừa?
6-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì mới XIỂN DƯƠNG NỀN ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN NHÂN QUẢ lớn rộng ra toàn nước Việt Nam và lan rộng ra khắp toàn cầu?
7-       Thưa Thầy! Thầy thường nói PHƯỚC chúng sanh quá mỏng, không hưởng được PHẬT PHÁP. Vậy chúng con muốn PHƯỚC dày, đủ điều kiện làm chủ sanh - già - bệnh - chết thì phải gieo duyên gì, nhân gì?
8-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì để người phát nguyện ăn chay theo ĐỨC HIẾU SINH sẽ được thuận duyên toại nguyện?
9-       Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì để giải nghiệp thọ bệnh và làm chủ được THỌ BỆNH, để phương pháp này được phổ biến rộng rãi, để bệnh viện ít bệnh nhân?
10-  Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì để luôn luôn được KIÊN TRÌ, GAN DẠ, SIÊNG NĂNG, SÁNG SUỐT, CẨN THẬN trong lúc tu hành.
11-  Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì để nhanh chóng trừ bỏ được NGŨ DỤC LẠC, NGŨ TRIỀN CÁI  THẤT KIẾT SỬ.
12-  Chúng con phải gieo duyên gì, nhân gì để nhanh chóng BẤT ĐỘNG trước ÁC PHÁP  CẢM THỌ?
Thầy ơi! Hiện giờ chúng con hiện giờ ngày đêm mong ước được ở gần Thầy, để chứng tỏ là một để tử đầy lòng hiếu kính, tin yêu tuyệt đối của chúng con đối với Thầy, con xin mượn lời đệ tử của đức Phật ngày xưa: “Tất cả các pháp lấy THẾ TÔN làm căn bản”, bây giờ thì chúng con sẽ nói: “Tất cả các pháp xin lấy THẦY làm căn bản”.
Thầy bảo các con đi tới, chúng con đi tới; Thầy bảo lui, chúng con lui; Thầy bảo chúng con nhảy xuống vực thẳm, chúng con nhảy liền, không suy tư tính toán gì cả.
Cuối thư chúng con xin chúc cho Thầy vạn điều ước thiện của Thầy sớm trở thành hiện thực và chúng con xin Thầy chịu cực ít lâu nữa, chắc chắn đệ tử của Thầy rất nhiều người thành tựu, lúc đó Thầy sẽ được nghỉ ngơi mãi mãi. Chúng con xin kính chào Thầy, cô Út và tất cả tu viện.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam mô đức bổn sư Thích Thông Lạc!
Chúng con nhóm Nguyên Thủy II
Xin kính thư.
Đáp[1]: Kính gửi: Các con!
1-        Tin vào Phật pháp.
2-        Giữ gìn 5 giới cho nghiêm chỉnh.
3-        Giữ tâm bất động.
4-        Pháp Như lý tác ý.
5-        Ước nguyện và giữ gìn 10 giới Sa Di trọn vẹn.
6-        Giữ gìn 5 giới trọn vẹn và ước nguyện mọi người sống trong 5 giới.
7-        Ly gia cắt ái xuất gia làm tu sĩ ba y một bát.
8-        Phải lập chí dũng mạnh.
9-        Giữ tâm bất động trước các ác pháp.
10-    Tập pháp Thân Hành Niệm.
11-    Tác ý ly dục ly ác pháp hàng ngày.
12-    Thấy các pháp đều vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta.
Kính ghi

Saturday, April 28, 2018

TRIẾT HỌC, TÔN GIÁO VÀ CHÂN LÝ?




Muốn sống được ĐỨC TỪ TÂM, trước hết chúng ta phải hiểu và phân biệt cho rõ ràng về tôn giáo, triết học và chân lý của loài người.

Trước khi học đạo đức thương mình thì các bạn cần nên hiểu biết về chân lý sống của con người. Nói đến chân lý thì xin các bạn đừng hiểu lầm chân lý là triết lý, là tôn giáo, là khoa học, v.v..
Chân lý là một điều đã được xác định bản chất sự sống của loài người một cách cụ thể và thực tế, không cần phải thêm bớt, dù bất cứ ở thời nào, nó cũng hợp thời chứ không có lỗi thời. Những điều nói ra đúng như thật mới được gọi là chân lý, còn chưa đúng như thật thì không được gọi là chân lý. Loài người điên đảo vì những nỗi thống khổ của kiếp người, nên có nhiều nhà trí thức hiểu biết phát minh và đưa ra nhiều triết thuyết như: triết thuyết này, triết thuyết kia; tôn giáo này, tôn giáo kia. Mục đích đưa ra là để mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Nhưng họ không ngờ cho nên đã lầm lạc một chút, vì những triết thuyết và những tôn giáo của họ là tưởng tri, chứ không phải liễu tri. Họ tưởng rằng những triết thuyết và tôn giáo của họ sẽ đưa con người đi đến một cuộc sống hạnh phúc, an vui, nhưng nào ngờ nó đi ngược lại. Đi ngược lại, nên triết thuyết và tôn giáo thường hay sửa đổi và thêm bớt.

Khi đã đưa ra bao nhiêu triết thuyết, bao nhiêu tôn giáo thì loài người bị phân chia ra nhiều ý thức hệ, ra nhiều phe nhóm, ra nhiều tôn giáo, v.v.. Từ đó con người chấp chặt trên phe nhóm của mình, chấp chặt trên ý thức hệ tư tưởng triết lý về đời sống và về tôn giáo của mình. Từ sự chấp chặt đó, họ lại giày xéo, chà đạp lên nhau và đôi khi còn giết hại lẫn nhau. Giày xéo, chà đạp, giết hại lẫn nhau bằng ngôn ngữ, bằng mưu mô thủ đoạn xảo trá, bằng vũ lực để bảo vệ ý thức hệ; để bảo vệ tôn giáo; để bảo vệ quyền lợi phục vụ giai cấp của họ, v.v.. như trên chúng tôi đã nói[1].

Từ đó đạo đức nhân bản - nhân quả đã bị đánh mất. Ý thức hệ tôn giáo tranh chấp này càng ngày càng gay gắt hơn. Do đó họ lấy bản thân của họ để làm lá chắn, làm vật hy sinh cho ý thức hệ triết học và tôn giáo của họ, để luôn luôn chống đối lại ý thức hệ và tôn giáo của người khác. Trường hợp xảy ra ở bên nước Pháp ngày 14 tháng 7 năm... Thiên Chúa và Tin Lành. Ở nước Việt Nam cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963. Trước cảnh phân chia tranh chấp, đấu tranh tôn giáo và các hệ tư tưởng triết học, khiến cho con người đã khổ đau lại còn khổ đau hơn, nên có một số người muốn hòa giải những sự tranh chấp ấy. Họ dung hợp những điểm tương đồng và bỏ lờ qua những điểm sai khác của các triết học và tôn giáo để hòa đồng lại các hệ tư tưởng triết học và các tư tưởng tôn giáo thành một khối. Lấy mục đích đỉnh cao của mọi tôn giáo và triết học cho rằng: Chỗ cuối cùng đều giống như nhau không khác.

Việc làm này cũng chẳng đi đến đâu lại sinh ra một tôn giáo mới “Hòa Đồng Tôn Giáo”. Với một cái tên... nghe rất kêu. Nhưng sự hoà đồng tôn giáo, sự thống nhất các hệ phái cũng chẳng giải quyết những nỗi khổ đau của con người. Đó cũng chỉ là cách hòa giải làm giảm bớt sự căng thẳng chống đối giữa các tôn giáo và giữa các hệ phái, để thực hiện những giấc mơ an ủi tinh thần trong thế giới siêu hình, chứ kỳ thực con người vẫn khổ và khổ mãi mãi.

Trên cuộc đời này lịch sử loài người về tôn giáo và triết học đã chứng minh cho chúng ta biết những cuộc đấu tranh đẫm máu tôn giáo và tư tưởng triết học rất là thảm khốc mà con người phải gánh chịu. Thật là đau lòng. Phải không hỡi các bạn?

Nhìn chung, về tôn giáo hay về triết học thì chưa có một tôn giáo nào hay một triết học nào là hoàn hảo, đúng đắn để đưa sự sống của con người và muôn loài thoát khổ.

Tham vọng của con người quá to lớn, lợi dụng tư tưởng tôn giáo này hay triết học kia rồi chắp vá manh mún để chia chẻ ra nhiều tôn giáo, ra nhiều hệ phái, ra nhiều ý thức hệ triết học, triết lý khác nhau để thỏa mãn danh lợi cá nhân bản thân họ. Nhưng nào ngờ với việc làm này thì tai họa sẽ giáng xuống đầu của loài người và muôn loài vạn vật. Bởi vì, con người hiện giờ chỉ còn biết ý thức hệ và tôn giáo của mình là trên hết như trên chúng tôi đã nói. Nên cuộc chiến tranh hận thù hủy diệt loài người cũng sẽ xuất phát từ nơi những tư tưởng hận thù ấy.

Từ những ý tốt để phục vụ sự an lành hạnh phúc cho loài người, nhưng ngược lại là đem sự đau khổ cho loài người nhiều hơn. Cho nên, các nhà tôn giáo, các nhà triết học phải sáng suốt nhận định cho đúng đắn, đừng vì danh, vì lợi mà thành lập tôn giáo này, tôn giáo nọ, hệ phái này, hệ phái nọ, triết học này, triết học nọ, mà gây chia rẽ, làm đau thương cho loài người.

Tôn giáo và triết học chưa hẳn là chân lý của loài người. Xin các bạn hãy nghiên cứu lịch sử về tôn giáo và triết học của loài người thì các bạn sẽ hiểu rõ hơn.

Vì lợi ích cho loài người, chúng ta là những nhà tôn giáo, là những nhà triết học, mỗi lần chúng ta muốn đưa ra một giáo pháp, một giáo điều, một triết lý nào đó thì chúng ta cần phải có đầy đủ kinh nghiệm và thấu suốt về bản chất đời sống của con người có áp dụng vào đời sống của họ được hay không? Nếu được thì giáo pháp, giáo điều và triết lý ấy sẽ không bị phản ứng ngược lại, không bị sống trong ảo tưởng, trừu tượng, mơ hồ hoặc không bị trở thành mê tín, dị đoan, v.v.. Do đó, nó đem lại sự an vui hạnh phúc cho loài người thật sự, thì giáo pháp, giáo điều và triết lý đó là chân lý, còn nếu chưa áp dụng được như vậy thì giáo lý, giáo điều và triết lý đó không phải là chân lý. Cho nên, chúng ta cần phải cân nhắc kỹ lưỡng rồi mới đưa ra. Nếu đưa ra thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng là tai hại rất lớn và làm cho loài người khổ đau nhiều hơn.

Các nhà làm tôn giáo và các triết gia đừng lấy con người làm thí nghiệm cho giáo lý, giáo điều và triết lý của mình. Con người vốn sinh ra quá khổ đau mà lại bị nhồi nhét thêm những loại tư tưởng tôn giáo, triết lý mơ hồ ảo giác, khiến cho nền đạo đức của con người bị mất đi. Vì thế, cuộc sống của con người càng khổ thêm thì rất tội cho họ. Biến đời sống của họ trở thành một đời sống mơ mộng, trừu tượng, ảo tưởng, sống không thực tế, sống mất tự chủ, sống chỉ nhờ vào tha lực của thần quyền ảo giác, rất uổng phí một đời người mà chẳng có lợi ích gì thiết thực cả. Khổ đau lại càng chồng chất khổ đau hơn.

Triết lý và tôn giáo chỉ là những phương thuốc mới chế tạo, mới đem ra thí nghiệm, nó chưa phải là một thứ thuốc đặc trị bệnh khổ đau của loài người. Vì thế, loài người uống nhầm thuốc thí nghiệm này đã không hết bệnh mà lại bệnh nhiều hơn (bệnh ảo tưởng, bệnh mê tín). Còn chân lý mới thật sự là một phương thuốc thần dược trị bệnh của nhân loại. Cho nên, muốn trị bệnh loài người thì phải biết rõ bệnh và thuốc trị của loài người. Loài người thường hay bệnh gì? Và thuốc gì để trị?

Tóm lại những giáo lý của các tôn giáo là những triết lý, nó chưa phải là chân lý. Do đó, nó chưa phải là một loại thuốc đặc trị bệnh khổ của con người. Vì thế, con người khi muốn ra khỏi sự đau khổ của kiếp người thì không nên vội tin chúng, cần phải quan tâm nghiên cứu tường tận các tôn giáo và triết học. Chúng không phải là chân lý của con người, có nghĩa chúng chưa phải là sự thật và cũng chưa đáp ứng được những nhu cầu tinh thần bình an và hạnh phúc cho loài người. Vì thế, muốn dùng thuốc triết học và tôn giáo thì phải cân nhắc kỹ lưỡng, đừng để “tiền mất tật mang”.

Nguồn: Đạo Đức Làm Người

Tuesday, April 17, 2018

THÂN THƯỜNG BỊ BỆNH




Câu hỏi của một Phật tử ở Mỹ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thân thường bị bệnh là nghiệp gì? Phải làm sao thân không bệnh?

Đáp: Đã sinh làm người, làm loài động vật là đã mang thân nghiệp. Thân nghiệp tức là thân nhân quả. Thân nhân quả tùy theo nhân quả thiện ác mà thọ chịu quả khổ đau phiền não, giận hờn thương ghét, v.v.. nặng nhẹ hoặc thọ hưởng sự phước báo yên vui, an ổn, ít bệnh tật, ít tai nạn, v.v.. chứ không ai mang thân nhân quả nghiệp báo mà không đau khổ, mà không có an vui bao giờ. Thân thường bị bệnh là do nghiệp sát sanh tức là nguyên nhân giết hại và ăn thịt chúng sanh. Người có thân thường hay bị bệnh từ lúc mới sinh ra cho đến già sắp bỏ thân này là do kiếp trước giết hại và ăn thịt chúng sanh quá nhiều nên phải chịu trả quả báo thọ thân bệnh khổ đau liên miên như vậy.

Muốn thoát ra thân bệnh tật khổ đau và những tai nạn thì phải thọ Tam Quy Ngũ Giới. Thọ Tam Quy Ngũ Giới là phải giữ gìn đúng những lời Phật dạy thì mới có kết quả thân không còn bệnh tật và tai nạn nữa. Vậy Thọ Tam Quy Ngũ giới là gì? Và thọ bằng cách nào? Thọ Tam Quy tức là nương theo Phật, Pháp, Tăng. Nương theo Phật là phải sống như Phật; nương theo Pháp là phải sống đúng theo
lời dạy của Phật; nương theo Tăng là phải thân cận thiện hữu tri thức thường thưa hỏi và sống theo gương hạnh hòa hợp của những vị Tăng để hằng ngày sống trọn vẹn đạo đức nhân bản – nhân quả tự không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.
Đó là Quy Y Tam Bảo, con nên ghi nhớ.

Thọ ngũ giới là gì? Thọ ngũ giới là chấp nhận sống năm đức hạnh nhân bản - nhân quả tự không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Năm giới đức hạnh đó là:

1- Giới thứ nhất không giết hại và ăn thịt chúng sanh, đó là đức hiếu sinh tức là lòng thương yêu sự sống trên hành tinh này vậy.

. 2- Giới thứ hai không tham lam trộm cắp, cướp giựt, không lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, đó là đức buông xả, đức thiểu dục tri túc tức là xả ly lòng không tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, từ bỏ lấy của không cho.

3- Giới thứ ba không tà dâm tức là đức chung thủy. Đức chung thủy là lòng thương yêu một vợ một chồng, không lang chạ với người khác. Đức chung thủy tạo nên một gia đình đầm ấm, hạnh phúc chồng thương vợ, vợ thương chồng với một lòng thương yêu chân thật, một tình nghĩa keo sơn gắn bó. Sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách. Đây là một đạo đức gia đình mà mọi người trên thế gian này cần phải học và sống cho đúng để không làm khổ những người thân thương đầu áp tay gối của mình.

4- Giới thứ tư không nói dối tức là đức thành thật. Đức thành thật là một đức hạnh tạo cho mình có đầy đủ lòng tin đối với mọi người. Vì thế chuyện thấy nói thấy, chuyện không thấy nói không thấy; chuyện có nghe nói có nghe, chuyện không nghe nói chuyện không nghe, chứ thấy nói không thấy, chứ nghe nói không nghe là nói dối. Người không có đức hạnh thành thật thường đem chuyện của người này nói cho người khác nghe hoặc đem chuyện người khác nói cho người này nghe hoặc nói thêu dệt, nói lật lọng đều là những người thiếu đức thành thật và đức tôn trọng mình tôn trọng người.

5- Giới thứ năm không uống rượu, uống cà phê, không hút thuốc lá thuốc lào, thuốc phiện, v.v.. đó là đức minh mẫn. Đức minh mẫn là một đức hạnh sáng suốt. Đức minh mẫn sáng suốt là tự biết mình, làm chủ mình mình không để mình nghiện ngập rượu, thuốc lá, thuốc lào, cà phê, thuốc phiện, v.v.. Vì những loại xa xỉ này đem tai hại và khổ đau cho bản thân mình và gia đình mình như cha, mẹ, vợ, con.

Trong năm đức này người có thân bệnh cần phải giữ gìn cho trọn vẹn đừng vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào trong năm giới này thì ước nguyện thân bệnh tật sẽ được chuyển hóa và tiêu trừ. Khi giữ gìn năm giới trọn vẹn thì phải tu tập các pháp Thân Hành Niệm, Định Niệm Hơi Thở bằng cách dùng cánh tay đưa ra đưa vào và tác ý câu: “An tịnh thân hành tôi biết tôi đưa tay ra, an tịnh thân hành tôi biết tôi đưa tay vô” tác ý xong liền đưa tay ra vô năm lần rồi tiếp tục tác ý như câu trên. Tu tập như vậy đúng 30’ xả nghỉ 30’ rồi lại tiếp tu tập lại nữa chừng nào hết bệnh mới thôi. Nếu người có duyên với hơi thở thì nên tu tập theo hơi thở và tác ý câu: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Nương theo hơi thở mà tu tập như vậy một thời gian thì bệnh sẽ được đẩy lui.

Trước khi tu tập hơi thở như vậy thì nên tác ý câu: “Thọ là vô thường cái bệnh nhức đầu (bệnh gì thì nên nói rõ tên bệnh ấy) này phải chấm dứt, phải rời khỏi thân ta”. Đó là một phương pháp chuyển nghiệp nhân quả tuyệt vời, nếu con tin tưởng thì hãy tu tập theo đúng lời dạy trên đây thì kết quả sẽ được như ước nguyện. Đạo Phật tu tập không những làm chủ bệnh tật mà còn làm chủ bốn sự khổ đau của kiếp người, đó là làm chủ sanh, già, bệnh, chết.

(Trích "Đường về xứ Phật - tập 8)

Sunday, April 15, 2018

Lời dạy cặn kẽ


CHÚ GIẢI:
Trước khi muốn hiểu đoạn kinh này, thì chúng ta cần nên hiểu như thế nào cho đúng nghĩa lý của nó, để biết cách áp dụng vào cuộc sống hằng ngày thì mới mong thấy sự giải thoát. Nếu chúng ta không hiểu hoặc hiểu sai lệch, thì sự tu tập của chúng ta không có kết quả mà còn tai hại cho sức khoẻ.
I- Lời Phật dạy thứ nhất: “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Muốn hiểu biết cho thấu đáo thì cần phải hiểu các từ trước tiên. Vậy tất cả pháp nghĩa là gì? Danh từ “tất cả” thì các bạn đều hiểu nghĩa rồi, còn danh từ “PHÁP” thì các bạn phải hiểu như sau đây: Pháp gồm có ba phần:
1- Về vật chất;
2- Về tinh thần;
3- Về cảm thọ.
Về vật chất chỉ cho vạn hữu; về tinh thần chỉ cho tâm niệm; về các cảm thọ chỉ cho sự đau khổ của thân.
Trong đoạn kinh này, đức Phật đã xác định các pháp lấy gì làm gốc? Và biết gốc của các pháp để làm gì?
Như câu thứ nhất Phật dạy: “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Vậy dục và căn bản là gì? Dục là lòng ham muốn, sự ham muốn; căn bản là gốc rễ, cội nguồn. Giải nghĩa chung của cụm từ ngữ này là: Tất cả các pháp đều do gốc ham muốn sinh ra.
Chân lý Đạo Phật đã xác định và thấm nhuần lý “DỤC” này (Tập Đế), nên Ngài chủ trương ly dục, diệt dục. Vì dục là nguyên nhân sanh ra muôn thứ khổ đau trong cuộc đời này, hay nói cách khác là nơi tập hợp mọi sự khổ đau.
Chữ pháp ở đây nghĩa quá rộng rãi, nên các bạn nghi ngờ và tự hỏi: “Gốc cây kia cũng có dục nữa sao?”.
Hỏi như vậy, các bạn đã lầm, chỉ biết có loài động vật là có dục, còn loài thảo mộc là không dục. Loài thảo mộc vẫn có dục như loài động vật vậy. Các bạn có thấy một cây to lớn, tàn lá che phủ cây nhỏ không? Cây nhỏ nghiêng mình tránh tàn cây lớn, đó không phải là dục sao? Đổ một đống phân gần gốc cây, bao nhiêu rễ đều hướng về đống phân, như vậy cây cũng có dục chứ! Vì thế, đức Phật nói: “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”.
Vì vậy, nghĩa chữ “Pháp” rất rộng rãi, mênh mông, vô cùng, vô tận, nó chỉ cho vạn hữu và mọi sự việc, mọi tâm niệm đã khởi, mọi cảm thọ đang xảy ra trong đời sống hằng ngày của các bạn như trên đã nói. Bạn có biết chăng?
Tất cả pháp ở đây còn có nghĩa là tâm niệm, là các cảm thọ, là các pháp trần của bạn. Mỗi tâm niệm của bạn dù thiện (hữu lậu) hay ác khởi lên đều do dục cả. Vì vậy, đức Phật xác định:“Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Thấu hiểu nghĩa như vậy, nên lúc tu tập Tứ Niệm Xứ giai đoạn đầu (Tứ Chánh Cần), khi có một niệm khởi, thì chúng ta dùng Chánh Tư Duy quán xét niệm ấy tận cùng, và biết ngay niệm ấy sinh ra đều do gốc dục. Mục đích tư duy quán sát là để KHÔNG LÀM THEO DỤC; không làm theo dục tức là ly dục.
Thưa các bạn! Như các bạn đã biết, “dục” là nguyên nhân sinh ra muôn thứ đau khổ (Tập Đế). Vì thế, khi có một niệm khởi lên trong tâm, là mau mau quán sát tư duy đuổi ra cho khỏi tâm, nói cách khác là không làm theo tâm dục, là ly dục.
Các bạn nên lưu ý: Chỉ có tâm thanh thản, an lạc và vô sự (thiện vô lậu), hay nói cách khác là tâm không phóng dật, TÂM KHÔNG PHÓNG DẬT LÀ TÂM KHÔNG CÓ DỤC, ngoài ra tất cả mọi pháp nào, dù thiện hữu lậu hay ác đều do gốc dục sinh ra cả. Cho nên, người tu sĩ và người cư sĩ lúc nào cũng cần đề cao cảnh giác từng niệm, cũng như lúc tâm không niệm, vì tâm không niệm nhưng thân lại có niệm. Vậy niệm của thân là gì?
Như đã nói ở trên: đau nhức, ngứa ngáy, mệt mỏi, tức lói, v.v… là niệm của thân các bạn ạ! Những pháp này xảy ra trên thân cũng đều do gốc dục cả. Khi thân bị đau nhức thì các bạn đừng sợ hãi. Bởi vì đức Phật bảo: Tất cả các cảm thọ đều vô thường, vô ngã, không phải là ta, không phải của ta. Vậy cảm thọ không phải là ta, là của ta; tính chất của nó vô thường, vô ngã thì ta sợ gì. Phải không hỡi các bạn?
Khi chúng ta biết rõ được gốc của các pháp là dục, nhưng gốc dục không phải là ta, là của ta, thì ta làm gì mà sợ hãi. Mặc kệ nó; nó có làm gì được ta đâu mà sợ, vì ta với nó là hai kẻ xa lạ. Khi hiểu rõ được gốc dục như vậy, thì tất cả sự đau khổ trong ta đều được hoá giải, khiến cho ta hoàn toàn sống an vui và hạnh phúc. Vậy, biết gốc của các pháp thì đỡ chúng ta biết mấy. Nhưng chúng ta cũng phải biết cách đuổi các pháp ác đó đi, để thân tâm chúng ta lúc nào cũng được an vui, thanh thản. Vậy đuổi nó bằng cách nào đây?
Chúng ta chỉ cần tác ý: “Tâm thanh thản, an lạc và vô sự, đừng sợ cảm thọ; nó không phải là ta, của ta; nó là người xa lạ. Hãy đi, đi! Không được ở trong thân ta”, hoặc ta tác ý như sau: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”,hoặc: “Thọ phải đi, đi! Thân phải an tịnh. Tôi biết tôi đang đi kinh hành”.
Các bạn cứ nhớ kỹ, luôn bám cho thật chặt vào hơi thở hoặc thân hành ngoại thì cảm thọ sẽ đi mất. Cảm thọ đi mất tức là dục đi mất. Cảm thọ dục ở chỗ nào? Dục ở chỗ đau gọi là dục đau. Cho nên, hết dục là hết đau, tức là lìa gốc dục của các pháp. Cho nên “tất cả pháp lấy dục làm căn bản”.
***
II- Lời Phật dạy thứ hai: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Trong lời dạy này, chúng ta có cơ sở để hiểu biết danh từ “tất cả pháp” là nghĩa gì? Ở đây, đức Phật đã dạy tất cả pháp là tâm niệm của chúng ta. Tại sao chúng ta lại biết chắc như vậy?
Bởi vì, trong lời dạy thứ hai đức Phật đã xác định rõ ràng: “Tác ý làm sanh khởi”. Tác ý là pháp thuộc về ý thức. Pháp thuộc về ý thức tức là tâm niệm, ý niệm. Mỗi niệm trong tâm là mỗi pháp. Cho nên, mỗi niệm trong tâm đều lấy tác ý làm sanh khởi. Tác ý có hai cách:
1- Tác ý sinh khởi ác pháp;
2- Tác ý sinh khởi thiện pháp.
Tác ý sinh khởi ác pháp là tác ý dục tham, dục sân, dục si…
Tác ý sinh khởi thiện pháp là tác ý ly dục tham, ly dục sân, ly dục si…
Cho nên, người tu hành theo Phật giáo để cầu sự giải thoát thì không bao giờ tác ý dục tham, dục sân, dục si… Đây là những pháp đau khổ; là con đường dẫn đến khổ đau; là con đường đưa đến địa ngục. Do đó, người tu hành cần phải ngăn chặn và chấm dứt con đường này, chỉ tác ý ly dục tham, ly dục sân, ly dục si… Đây là pháp thiện, là pháp chấm dứt sự đau khổ, đây là con đường giải thoát chân chánh của Phật giáo. Các bạn cứ suy ngẫm có đúng như vậy không?
Bởi vì tác ý mà khổ đau sinh khởi đến với chúng ta, và cũng do tác ý mà hạnh phúc, an vui, vĩnh cửu đến với chúng ta. Thế chỉ có một pháp tác ý mà sinh khởi hai góc độ như vậy, thì chúng ta hãy chọn góc độ nào để tác ý đem đến sự an lạc, yên vui. Phải không các bạn?
Hay nói cách khác theo kinh Pháp Cú:
“Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm
Khổ não sẽ theo ta
Như xe theo vật kéo”
–o0o–
“Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo ta
Như bóng không rời hình”
(Kinh Pháp Cú)
Từ một câu kinh ngắn gọn: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Biến thành một pháp tu tập tuyệt vời mà kết quả giải thoát thật sự, như lời đức Phật đã nói: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy…”
Cho nên, người tu hành mà không hiểu nghĩa lý kinh, không thông pháp tu hành thì cũng giống như người mù dò gậy mà đi đường. Nếu thông được pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì các bạn đã chủ động được thân tâm mình, dẫn nó vào sự an ổn và hạnh phúc thì cuộc sống là Thiên Đàng.
Con đường tu hành theo Phật giáo hạnh phúc giải thoát là như vậy, các bạn còn mong cầu gì hơn nữa. Phải không hỡi các bạn?
***
III- Lời Phật dạy thứ ba: “Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi”. Trước khi muốn hiểu lời dạy này, thì chúng ta phải hiểu nghĩa của các từ. Vậy nghĩa “tất cả pháp” và “XÚC” là gì?
Tất cả pháp ở đây có nghĩa là sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, chứ không phải tâm niệm như nghĩa ở trên. Cùng một từ giống nhau, mà khi dùng chỗ này thì nghĩa như thế này, nhưng khi dùng chỗ khác thì nghĩa lại khác. Cho nên đối với Phật pháp, có thực hành đến nơi đến chốn mới hiểu rõ nghĩa. Còn thực hành chưa đến nơi đến chốn, cũng như các học giả mà hiểu kinh sách Phật thì làm sao hiểu đúng cho được. Phải không hỡi các bạn?
Vì thế, hầu hết kinh sách Đại thừa hiện giờ là kinh sách kiến giải của các Tổ tu hành chưa đúng với pháp môn của Phật, nên lý luận tưởng.
Sáu trần này xúc chạm với sáu căn sinh ra các cảm thọ; các cảm thọ sinh ra ái dục. Do ái dục con người mới sinh ra dính mắc; do sự dính mắc các pháp trần nên con người mới chịu nhiều cay đắng, phiền não, đau khổ và tật bệnh, v.v…
Bởi ái dục không phải tự nó có mà do sáu căn, sáu trần xúc chạm vào nhau sinh ra cảm thọ, do cảm thọ mới có ái. Do biết những điều này, nên người tu theo Phật giáo phải ly dục, ly ác pháp. Nếu muốn ly dục, ly ác pháp mà không phòng hộ sáu căn, cứ mãi để tiếp xúc sáu trần thì người ấy có tu muôn ngàn kiếp cũng chẳng ly dục, ly ác pháp được, bởi “tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi”. Do gốc này sinh ra dục, mà không sống độc cư thì có tu tập pháp gì cũng phí công vô ích mà thôi, bởi vì chính ĐỘC CƯ LÀ PHÁP PHÒNG HỘ SÁU CĂN.
Có nhiều bạn đã về tu tập tại Tu Viện Chơn Như, vì không giữ gìn hạnh độc cư này, nên tu hành chẳng ra gì, khi ra khỏi Tu Viện không thấy lỗi mình lại nói xấu, nói lỗi của Tu Viện, tạo ra ác nghiệp. Những người này đã tự làm mất duyên tu hành giải thoát, chỉ còn khoác lác vọng ngữ, để rồi họ sẽ gặt lấy những nghiệp quả ghê gớm trong những ngày tháng còn lại của những người vong ân, bội nghĩa.
***
IV- Lời Phật dạy thứ tư: “Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ”. Lời dạy này nói đến chỗ quy tụ tập hợp của các pháp là cảm thọ. Cảm thọ gồm có ba phần:
1- Thọ lạc;
2- Thọ khổ;
3- Thọ bất lạc, bất khổ.
“Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ”. Dù tham, sân, si, ngã, vô ngã hay nhân quả… đều lấy thọ làm chỗ quy tụ. Muốn cho các pháp không còn quy tụ thì phải ngăn ngừa không cho sáu trần xúc chạm với sáu căn. Và nếu giữ gìn không kỹ lưỡng, lỡ sáu trần xúc chạm với sáu căn sinh ra các cảm thọ, thì chúng ta cố gắng GIỮ TÂM KHÔNG HỀ DAO ĐỘNG trước ba cảm thọ này. Do biết ngăn ngừa và giữ gìn tâm như vậy thì đó là tu tập ly dục, ly ác pháp. Tu tập ly dục ly ác pháp tức tu tập thiền của Phật giáo (Ly dục ly ác pháp nhập Sơ Thiền, do ly dục sinh hỷ lạc). Thiền của Phật giáo tu tập như vậy, thế mà có những pháp tu tập thiền ngồi như con cóc; lại có những pháp tu tập thiền tưởng, ngồi tư tư tưởng tưởng thế giới siêu hình… mà cũng mạo nhận pháp thiền của Phật.
Còn ở đây, cần biết chỗ quy tụ của các pháp để ngăn và diệt, nên lời dạy này khiến cho chúng ta rõ cội nguồn quy tụ của các pháp. Nhờ biết rõ như vậy, nên thân tâm chẳng hề dao động trước các ác pháp và các cảm thọ. Nếu thân tâm không hề dao động sợ hãi là đã đạt được mục đích giải thoát của Phật giáo, chứ đâu phải cần nhập định này, định nọ để làm gì, và đôi khi tu sai lệch ức chế tâm còn bị bệnh tật và rối loạn thần kinh trở thành điên khùng.
Thưa các bạn! Trên đường tu tập theo Phật giáo các bạn nên nhớ câu này: “Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ”. Đừng quên các bạn nhé! Nó là pháp môn tu hành ngăn ác, diệt ác tuyệt vời.
***
V- Lời Phật dạy thứ năm: “Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ”. Ở đây, chúng ta phải hiểu những danh từ này. Vậy “ĐỊNH” nghĩa là gì?
“Định” nghĩa là tâm thanh tịnh, tâm ly dục, ly ác pháp; định là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ; định là tâm không tham, sân, si, mạn, nghi; định là tâm thanh thản, an lạc và vô sự; định là tâm không phóng dật. Các bạn nên lưu ý Định của Phật giáo không giống Định của ngoại đạo. Định của ngoại đạo cho tâm không vọng tưởng là định.
“Thượng thủ” nghĩa là gì? Nghĩa là đứng đầu. Nghĩa chung của câu này là tất cả pháp lấy tâm không phóng dật làm pháp đứng đầu. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn: TÂM KHÔNG PHÓNG DẬT là pháp đứng đầu trong mọi pháp.
Đến đây, chúng ta đã hiểu pháp mà chúng ta cần tu cho đạt được là pháp tâm không phóng dật. Vậy, các bạn tu như thế nào để tâm không phóng dật?
Xin các bạn lưu ý điều này: Tâm không phóng dật không phải là tâm chẳng niệm thiện, niệm ác. Tâm không phóng dật là tâm do ly dục, ly bất thiện pháp; tức là TÂM LÌA THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI. Biết lấy tâm không phóng dật làm mục đích để nhắm đến cứu kính Niết Bàn, thì sự tu tập mới thấy kết quả giải thoát khả quan.
Các bạn nên luôn nhớ câu này: “Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ”. Dù các bạn tu hành pháp môn nào, cũng phải nhớ pháp đứng đầu trong các pháp là tâm không phóng dật.
***
VI- Lời Phật dạy thứ sáu: “Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng”. Muốn hiểu nghĩa của lời dạy này thì chúng ta phải hiểu danh từ “NIỆM” nghĩa là gì? “Tăng Thượng” nghĩa là gì?
Niệm là ý niệm; tăng là giới luật; thượng là thanh tịnh. Trong đạo Phật nói đến Tăng là nói đến Giới luật. Tăng thượng là giới luật nghiêm chỉnh. Cho nên, nghĩa chung của lời dạy này:“Tất cả pháp lấy ý niệm sống đúng giới luật không hề vi phạm”.
Người mới vào tu theo Phật giáo thì phải được học và tu tập pháp môn thứ nhất, đó là pháp Tăng Thượng Tâm, tức là lấy ý thức tu tập Giới luật.
Bây giờ, các bạn đã hiểu lời dạy này: “Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng”. Khi mới vào tu tập theo giáo pháp của đức Phật là lấy ý thức (niệm) tu tập. Bởi vì ý thức là pháp dẫn đầu ly dục ly ác pháp. Do ly dục, ly ác pháp mà giới luật được nghiêm chỉnh. Giới luật là thiện pháp; Giới luật là Thánh hạnh (hạnh không làm khổ mình, khổ người). Kinh Pháp Cú có bài kệ xác định được việc tu hành tác ý này:
“Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm
Khổ não sẽ theo ta
Như xe theo vật kéo”
–o0o–
“Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo ta
Như bóng không rời hình”
***
VII- Lời dạy thứ bảy của đức Phật: “Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng”. Trước khi muốn hiểu nghĩa câu này, thì chúng ta phải hiểu từng danh từ của nó. Vậy “TUỆ” và “Tối Thượng” nghĩa là gì?
Tuệ là trí tuệ Tam Minh. Trí tuệ Tam Minh là một trí tuệ hiểu biết, siêu không gian và thời gian. Tối thượng là cao thượng nhất. Nghĩa của toàn câu này là tất cả pháp lấy trí tuệ Tam Minh làm pháp cao thượng nhất, không có pháp nào cao hơn được. Qua lời dạy trên đây, người tu hành theo Phật giáo phải đạt cho được trí tuệ Tam Minh để thực hiện Lậu Tận Minh thì chấm dứt luân hồi. Do đó, chúng ta phải hiểu Tam Minh là pháp tối thượng trong Phật giáo.
Trong Phật giáo ai cũng biết có ba cấp tu học: Giới, Định, Tuệ. Tuệ là cấp tu học vô lậu thứ ba, sau cùng của Phật giáo, cho nên đức Phật dạy: “Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng”. Đúng vậy, tất cả pháp chỉ có lấy tuệ làm pháp tối thượng giải thoát duy nhất.
Xin các bạn lưu ý: Đạo Phật là đạo giác ngộ. Vậy cái gì giác ngộ và giác ngộ cái gì?
Xin trả lời các bạn câu hỏi thứ nhất: Đó là trí tuệ. Nhưng trí tuệ từ đâu có?
Thưa các bạn, mọi vật sinh ra đều có trí tuệ, nhưng trí tuệ ấy còn hạn hẹp trong mỗi lốt nghiệp của vạn vật ấy. Trí tuệ ấy được nâng cấp lên theo từng thân nghiệp của chúng. Trí tuệ ấy được phát triển từ học hỏi, từ tu tập mà có, nhưng các bạn phải hiểu trí tuệ là gì?
Trí tuệ là sự hiểu biết.
Như trên đã nói: “Mọi vật sinh ra đều có trí tuệ”. Vậy, rong rêu, cây cỏ có trí tuệ hay không?
Thưa các bạn! Cây cỏ, rong rêu đều có trí tuệ, nhưng làm sao chúng ta biết có trí tuệ?
Cây cỏ cằn cỗi, héo úa, tàn phai khi khô nước, thiếu phân; cây cỏ biết tìm ánh sáng mặt trời để sống. Phải không hỡi các bạn?
Còn loài động vật thì chúng ta khỏi nói, vì chúng đều có trí tuệ cả. Nhưng trí tuệ có nhiều cấp bực tuỳ thuộc vào nghiệp của mọi loài, mọi đặc tướng, mọi nhân tướng, mọi hành tướng.
– Trí tuệ gồm có bảy:
1- Trí tuệ do ý thức;
2- Trí tuệ do tưởng thức;
3- Trí tuệ do tâm thức;
4- Trí tuệ vô học;
5- Trí tuệ hữu học;
6- Trí tuệ thiện;
7- Trí tuệ ác.
– Tuệ gồm có sáu:
1- Đức tuệ;
2- Hạnh tuệ;
3- Trực tuệ;
4- Thắng tuệ
5- Liễu tuệ;
6- Liệt tuệ.
Trí tuệ và Tuệ cộng lại là 13 tuệ, như vậy, một người không tu hành chỉ có sáu Trí tuệ và một Tuệ, còn người tu hành chứng đạo mới có đủ 13 tuệ.
1- Trí tuệ do ý thức là gì? Trí tuệ do ý thức là tri kiến; tri kiến là sự hiểu biết của ý thức. Ý thức là một trong nhóm sáu thức: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của sắc uẩn.
2- Trí tuệ do tưởng thức là gì? Trí tuệ do tưởng thức là tưởng kiến. Tưởng kiến là sự hiểu biết của tưởng thức. Tưởng thức là sự hiểu biết của tưởng uẩn (sự hiểu biết trong chiêm bao).
3- Trí tuệ do tâm thức là gì? Trí tuệ do tâm thức là sự hiểu biết của thức uẩn, sự hiểu biết của thức uẩn tức là trí tuệ Tam Minh. Trí tuệ Tam Minh là trí tuệ phi không gian và thời gian, còn gọi là trí tuệ vô lậu, Trí tuệ vô lậu là trí tuệ của bậc đã chứng quả A La Hán, gọi tắt là trí tuệ A La Hán.
4- Trí tuệ vô học là gì? Trí tuệ vô học là ý thức hiểu biết không cần vay mượn những sự hiểu biết của người khác như học tập trong sách vở, kinh tạng, v.v… Nói trí tuệ vô học, chứ kỳ thật trí tuệ đó thường bắt chước sự hiểu biết của người khác. Ví dụ: một đứa bé từ lúc sinh ra cho đến lớn khôn bắt đầu đều phải tập trườn, bò, tập đi, tập ăn, tập nói, tập hiểu biết, v.v.. Đó là đều vay mượn của người khác cả. Những người tuy không học thức nhưng vẫn là những người có trí tuệ vay mượn, vay mượn ít, còn những người có học thức là những người vay mượn nhiều.
Kinh sách Phật giáo Nguyên Thuỷ xác định trí tuệ vô học là chỉ cho sự hiểu biết của những người phàm phu ngu si, dốt nát, vô học, luôn sống trong vô minh với ác pháp, thường làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh.
Trí tuệ vô học chính là tri kiến của ý thức. Tri kiến của ý thức bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, nên sự hiểu biết không thấu suốt vũ trụ và vạn vật như thật, nên thường sống trong sự hiểu biết của tưởng. Vì thế, kinh sách của loài người để lại như rừng, như biển, nhưng phần nhiều chỉ là nhai lại những ý tưởng tượng của nhau bằng những ảo ảnh, trừu tượng, mơ hồ, v.v.. nên thiếu giá trị chân thật, không thực tế của kiếp sống con người. Còn lại, một vài tư tưởng thực tế có giá trị đạo đức cao đẹp của loài người, là do ý thức của họ quan sát thấu triệt được nền đạo đức môi trường sống mà biên soạn ra. Những tư tưởng thực tế có giá trị đạo đức cao đẹp ấy, khi đưa ra và áp dụng vào cuộc sống của loài người thì bị các giai cấp thống trị bóp méo. Bởi vậy, kinh sách thì nhiều, nhưng tìm một cuốn kinh hay, một cuốn sách có giá trị đạo đức chân thật thì không phải dễ tìm. Phải không các bạn?
Theo kinh sách phát triển Đại thừa và thiền Đông Độ thì trí tuệ vô học tức là trí tuệ vô sư. Trí tuệ vô sư do tu thiền định ức chế tâm mà có. Nhưng không ngờ, trí tuệ vô sư là trí tuệ tưởng, cho nên kinh sách Đại thừa và những công án Thiền tông đều do trí tuệ tưởng sản xuất, vì thế thiếu chân thật và chính xác, thường đưa dắt con người vào thế giới ảo tưởng.
Trí tuệ vô sư là trí tuệ không có thầy dạy, trí tuệ do tự mình hiểu biết. Những công án của Thiền tông ra đời là nhằm mục đích trắc nghiệm trí vô sư của đệ tử, nhưng kỳ thực, đó là một lối hướng dẫn đệ tử triển khai tưởng tuệ bằng một công thức có bài bản của hệ phái này. Cho nên, các hệ phái này, Đại thừa và Thiền tông chưa có đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống con người, mà chỉ đem lại một cuộc sống vào trong tinh thần ảo tưởng (Phật tánh).
5- Trí tuệ hữu học là trí tuệ do học tập và tu hành. Trí tuệ hữu học là ý thức được huân tu, huân học có thầy dạy, có kinh sách, có pháp môn tu hành, có bạn đồng tu, có thiện tri thức hướng dẫn.
Trí tuệ hữu học được hướng dẫn đúng theo giáo pháp nguyên thuỷ của Phật giáo thì trí tuệ ấy trở thành một sự hiểu biết sống động, có đạo đức nhân bản – nhân quả, không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Trí tuệ hữu học ấy còn gọi là tri kiến giải thoát của Phật giáo. Trí tuệ ấy do tu tập Định Vô Lậu mà phát triển. ĐỊNH VÔ LẬU còn được xem là TRI KIẾN GIẢI THOÁT, hay nói một cách khác là trí tuệ hữu học.
6- Trí tuệ thiện là sự hiểu biết về thiện pháp, trí tuệ không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh; trí tuệ thiện là tâm ly dục ly ác pháp; là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ; là tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Trí tuệ thiện là chánh tư duy, là Định Vô Lậu; trí tuệ thiện là giới luật, là Phạm hạnh của người tu sĩ Phật giáo.
7- Trí tuệ ác là sự hiểu biết về ác pháp; trí tuệ ác làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh; trí tuệ ác là tâm tham, sân, si, mạn, nghi, v.v… Trí tuệ ác là tâm dao động trước các pháp ác và các cảm thọ; trí tuệ ác là tâm không ly dục ly ác pháp; trí tuệ ác là trí tuệ của những người phàm phu tục tử, hèn nhát, tham sống, sợ chết, tham danh, đắm lợi, vào luồn ra cúi, nịnh bợ, a dua, v.v…
8- Đức tuệ là trí tuệ đạo đức, trí tuệ biết thương mình, thương người; đức tuệ là tâm từ của Tứ Vô Lượng Tâm.
9- Hạnh tuệ là trí tuệ đức hạnh, trí tuệ biến ra hành động không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh; hạnh tuệ là tâm bi của Tứ Vô Lượng Tâm.
10- Trực tuệ là trí tuệ ngay thẳng, dám ăn dám nói những cái sai của người khác. Trong thời phong kiến, các quan Gián Nghi Đại Phu là những vị quan can ngăn nhà vua. Những người làm chức vụ này phải thẳng thắn, gan dạ dám nói những điều nhà vua làm sai. Những người dám ăn dám nói như vậy là những người có Trực tuệ.
Về tôn giáo, ngày xưa Đức Thích Ca Mâu Ni dám nói thẳng cái sai trong giáo lý của Bà La Môn và dựng lại những cái đúng, cái thiện giúp cho loài người thoát ra khỏi tinh thần tư tưởng mê tín lạc hậu. Ngài cũng còn có công xây dựng nền đạo đức nhân bản – nhân quả cho loài người, mặc dù chưa được triển khai trọn vẹn và đầy đủ. Ngài để lại cho loài người bốn chân lý bất di bất dịch thực tế và cụ thể mà muôn đời sau không ai thay đổi được, dù một chút xíu như hạt bụi. Ngài dám nói thẳng cái sai trong giáo lý của Bà La Môn là vì tâm đại từ bi đối với chúng sanh, đối với loài người. Cũng vì thế, mà trên đường hành đạo Ngài phải chịu nhiều gian nan, vất vả. Người ta mắng chửi, vu oan Ngài với phụ nữ, xô đá, cho voi say giết Ngài. Ngày nay, giáo lý Ngài còn lưu lại cho hậu thế là một công ơn rất lớn của Ngài.
Hôm nay, vì lòng thương tưởng tín đồ Phật giáo, nên chúng tôi chẳng ngại hiểm nguy trước một thế lực vĩ đại so với mình như hạt cát giữa sa mạc, dám nói thẳng sự thật, những cái sai của kinh sách phát triển Đại thừa, thiền Đông Độ và những cái sai của các hệ phái khác nhau trong Phật giáo hiện thời, để giúp cho tín đồ Phật giáo sáng suốt nhận định đâu là Chánh pháp, đâu là Tà pháp; đâu là Chánh tín, đâu là Mê tín; đâu là Chánh kiến, đâu là Tà kiến; đâu là Chánh tư duy, đâu là Tà tư duy. Và như vậy, để khai hoang trục lộ Bát Chánh Đạo, giúp cho mọi người tu theo Phật giáo không còn đi sai đường lạc lối nữa.
Đức Phật ngày xưa và ngày nay chúng tôi nói thẳng, chỉ thẳng, v.v… Đó là Trực tuệ.
11- Thắng tuệ là trí tuệ chiến thắng mọi ác pháp. Ví dụ: Người ta hay mạ nhục, chửi mắng mình, mà mình nghe, thấy, biết rõ ràng, nhưng tâm không hề có chút giận hờn. Nghe, thấy, biết mà không khởi tâm giận hờn, phiền não, đó là Thắng tuệ. Thắng tuệ tức là tri kiến giải thoát do sự tu tập Định Vô Lậu mà có.
12- Liễu tuệ là trí tuệ thấy, hiểu, biết mọi pháp như thật. Liễu tuệ còn gọi là trí tuệ Tam Minh.
13- Liệt tuệ là trí tuệ yếu đuối không hoạt động, không làm việc, không chịu tư duy, suy nghĩ; trí tuệ mệt mỏi, lười biếng, uể oải, v.v… Liệt tuệ là một trí tuệ không có sức đề kháng, là một trí tuệ nhu nhược hèn nhát, yếu mềm; liệt tuệ là trí tuệ tiêu cực, yếm thế đầu hàng mọi ác pháp. Người có liệt tuệ không bao giờ tu theo Phật giáo được. Vì Phật giáo là một tôn giáo tự lực nên không có ai giúp đỡ mình, mà phải chính mình vươn lên.
***
VIII- Lời dạy thứ tám của đức Phật: “Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Đúng vậy, mục đích tu theo Phật giáo là thân tâm phải được giải thoát. Giải thoát có nghĩa là phải hết tâm tham, sân, si, mạn, nghi, v.v… Giải thoát là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.
Lời dạy này, các bạn nên lưu ý: Bất cứ pháp nào xâm nhập vào thân tâm của chúng ta, chúng ta đều lấy sự giải thoát để giữ vững thân tâm hoàn toàn bất động. Không nên để tâm bị chúng xâm phạm, vì chúng xâm phạm sẽ cướp mất quyền làm chủ sanh, già, bệnh, chết và luân hồi của chúng ta.
Cho nên, ở đây đức Phật bảo: “Lấy giải thoát làm lõi cây”. Lõi cây là những thớ cây kết tinh cứng rắn nhất của một cái cây, để cây có một giá trị tốt nhất. Còn ở đây, chúng ta lấy sự giải thoát làm năng lực kết tinh cứng rắn nhất của thân tâm, để các ác pháp không làm động thân tâm chúng ta được.
Xin các bạn nên ghi nhớ mãi mãi lời dạy này: “Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”. Nhờ đó, mà thân tâm các bạn sẽ không bao giờ dao động, luôn luôn thân tâm các bạn thanh thản, an lạc và vô sự.
***
IX- Lời dạy thứ chín của đức Phật: “Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập”. Vậy, nghĩa của những từ “BẤT TỬ” và “thể nhập” như thế nào?
Bất tử nghĩa là không chết; thể nhập nghĩa là nhập vào trạng thái bất di bất dịch. Nghĩa chung của nhóm từ này là tất cả các pháp lấy chỗ không chết vào nơi bất di bất dịch, hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn là các pháp lấy chỗ bất tử làm chỗ vào vĩnh cửu.
Thưa các bạn! Chỗ bất tử là TÂM BẤT ĐỘNG, cho nên trong Phật giáo có những danh từ để chỉ cho chúng ta thấu rõ nghĩa này: Bất tử tâm hay bất động tâm đều có một nghĩa như nhau. Những trạng thái tâm này được gọi tên theo thiền định là Bất Động Tâm Định hay Bất Tử Tâm Định.
Nếu hằng ngày chúng ta tu tập giữ gìn được tâm bất tử này, đừng cho mất thì chúng ta sẽ ngay đó tìm thấy một trạng thái TÂM THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ rất rõ ràng. Vì thế, đức Phật dạy chúng ta nên sử dụng: “Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập”. Đúng vậy, các bạn nên lưu ý và tu tập theo lời dạy này thì kết quả giải thoát ngay liền, không phải chờ đợi nhiều đời, nhiều kiếp như kinh sách Đại thừa dạy.
***
X- Lời dạy thứ mười của đức Phật: “Tất cả pháp lấy Niết Bàn làm cứu cánh”. Trước khi muốn hiểu nghĩa của lời dạy này, thì chúng ta phải hiểu nghĩa của những danh từ. Vậy “Niết Bàn” và “Cứu Cánh” nghĩa là gì?
Thưa các bạn! Các bạn đừng theo nghĩa kinh sách của các nhà học giả Đại thừa và Thiền tông mà hiểu nghĩa Niết Bàn là cảnh giới siêu hình thì không đúng các bạn ạ!
Niết Bàn là trạng thái vô lậu; Niết Bàn là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ; Niết Bàn là tâm thanh thản, an lạc và vô sự; Niết Bàn là trạng thái tâm không còn một tí gì tham, sân, si, mạn, nghi.
Còn nghĩa “cứu cánh” là nơi tột cùng của sự giải thoát, không còn có một nơi nào hơn được.
Nghĩa chung của câu dạy này là “Tất cả pháp lấy TÂM BẤT ĐỘNG làm nơi tột cùng của sự giải thoát”.
Thưa các bạn! Chúng ta tu theo Phật giáo, mục đích chúng ta phải đạt là TÂM BẤT ĐỘNG TRƯỚC CÁC PHÁP VÀ CÁC CẢM THỌ. Chúng ta không cầu làm Phật, không cầu kiến tánh, không cầu Cực Lạc, Niết Bàn, không cầu thần thông phép thuật, không cầu ngồi thiền nhập định bảy, tám ngày hoặc một tháng, hai tháng, ba tháng, một năm, hai năm, ba năm hoặc để lại nhục thân, v.v…
Vì thế, các bạn nên nhớ lấy lời dạy này: “Tất cả pháp lấy Niết Bàn làm cứu cánh”. Đó là sự rốt ráo tận cùng của đạo Phật, nhưng phải thông hiểu nghĩa Niết Bàn và Cứu Cánh như thế nào để biết mà giữ gìn tu tập và sống cho đúng nghĩa của nó, thì ước vọng của các bạn sẽ thành hiện thực trong đời nay. Thân ái chào các bạn.
(Trưởng lão Thích Thông Lạc – Những Lời Gốc Phật Dạy, tập 2)

Sách nói: LỜI PHẬT DẠY - biên soạn: Thích Tánh Trí

Sách nói LỜI PHẬT DẠY do Đại đức Thích Tánh Trí biên soạn, qua hai giọng đọc phật tử Chúc Sen và Thiện Nghĩa. Ước nguyện LỜI PHẬT DẠY...