Showing posts with label Góp nhặt. Show all posts
Showing posts with label Góp nhặt. Show all posts

Wednesday, January 16, 2019

ÁI KIẾT SỬ



"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác,
Yêu không gặp là khổ
Oán phải gặp cũng đau.

Do vậy chớ yêu ai
Ái biệt ly là khổ.
Những ai không yêu ghét.
Không thể có buộc ràng."


(Kinh Nikaya Pháp Cú: XXI: Piyavagga: Phẩm Hỷ Ái (210- 211)


Thưa các bạn thân mến!

Những lời dạy này của Đức Phật, đã nhắn gửi đến chúng ta rằng: cuộc đời mà chúng ta hiện đang sống và thở là một thế giới đương đại đầy những niềm đau và nỗi khổ, đầy máu lửa, đau thương, nước mắt, đầy những phân hóa hỗn tạp, hận thù đảo điên.

Vì vậy, chúng ta đang được sống làm người là những chuỗi ngày dài vô tận đang ở trong một cái bể sầu khổ rơi đầy nước mắt. Nếu chúng ta có thiện duyên được gặp minh triết chân lý lẽ phải của nền đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ mình khổ người, khổ chúng sanh thì cuộc đời của mỗi chúng ta sẽ được soi sáng, tươi vui, an lành, hạnh phúc mỗi ngày.
Nên những lời dạy này của Đức Phật đã khuyên nhủ và nhắn gửi đến chúng ta chớ gần gũi người yêu, bởi vì khi chúng ta vô minh để được thương yêu. Chúng ta nào biết đằng sau sự cảm giác lạc thú ấy là biết bao nhiêu hậu quả đau thương ê chề khốn đốn mà ta phải gánh chịu và đón nhận tất cả.

Vợ chồng con cái là những cái nhà tù chung thân chôn vùi cuộc đời xanh tươi trong trắng của đời ta. Là những ảo ảnh màu hồng, là những bông bóng nước vỡ tan khi có những giông bão đi qua. Vì vậy chúng ta hãy luôn có chánh tri kiến trong khi ta đang yêu thương.

Chúng ta hãy có cái nhìn hiện thực về cuộc sống. Hãy nhận diện đâu là con đường thoát khổ và đâu là con đường vướng mắc trói buộc của khổ đau. Những giây phút ảo tưởng về chân trời hạnh phúc màu hồng trong khi gần gũi người yêu ấy. Đã làm choáng ngợp biết bao tâm hồn mê muội đắm đuối mê ly. Trừu tượng ảo giác về cuộc sống lý tưởng "một mái nhà tranh với hai quả tim vàng".

Đó là những gì chúng ta lý tưởng hóa xây mộng đẹp bằng ảo mơ vô vọng về ái tình tuyệt vời như mộng huyễn nhưng thực tại nó không phải vậy? Nếu chúng ta chui đầu vào mái nhà tranh với hai quả tim vàng đó, thì ta sẽ nếm được mùi vị đắng cay của ái tình khổ lụy sầu đau ấy. Và ta sẽ phải lãnh đủ những chuỗi tháng ngày dài bất tận trong trái tim ngục tù.

Cái gọi là "lâu đài tình ái" ấy chẳng qua chỉ là một nhà tù mà thôi. Một nhà tù sơn son thếp vàng đề bốn chữ "lâu đài tình ái" khi cưới nhau chúng ta xây cho nhau những nhà tù. Ban đầu thì ôi thôi rất tuyệt đẹp. Sau đó rã ra những chất sơn thếp rốt cuộc chúng hiện nguyên hình là những nhà tù có những song sắt rất lớn cả hai đều kẹt cứng không thể nào thoát ra được.

Đám cưới có thể là một tờ giao kèo ở tù chung thân mà dù có vùng vẫy cách mấy ta cũng không thoát ra được, khạc đã không ra, mà nuốt cũng không vào, nhìn xung quanh chúng ta sẽ thấy rất nhiều trường hợp như vậy, ly dị không được, mà không ly dị cũng không xong.

Điều này không những đúng trong trường hợp: người tình với người tình, cha và con, mẹ và con, bạn và bạn, chị và em, thầy và trò hay trò và Thầy, v.v... Vì vậy cho nên chúng ta hãy thương làm sao để cho người kia còn có tự do, để cho người kia còn là người kia và để cho ta còn được là ta, thương mà còn có tự do thì tình thương ấy mới gọi là tình thương chân chánh có đạo đức.

Đôi khi ta phải tự hỏi chính ta và ta phải tới hỏi người kia "Này anh, trong tình thương của tôi có tính chất độc tài không? Có tính chất chiếm hữu không? Có tính chất vướng mắc không? Có tính chất áp đặt không? Khi tôi thương anh, tôi có làm cho anh đau khổ hay không?" Nếu chúng ta hỏi được câu đó thì ta đã có can đảm và gan dạ: "Này em, em có khổ đau vì cách tôi thương em hay không?".

Cha cũng phải hỏi con câu đó, mẹ cũng phải hỏi con câu đó, thầy cũng phải hỏi trò câu đó, chị gái cũng phải hỏi em trai câu đó mà em gái cũng phải hỏi anh trai câu đó, đệ tử cũng phải hỏi sư phụ câu đó, người yêu cũng phải hỏi người yêu câu đó: "Này anh tình thương của em có phải là cái nhà tù của anh hay không?".

Thế nên, Đức Phật đã nhắn nhủ với chúng ta

"Chớ gần gũi người yêu"

Là vậy đó, gần gũi lâu ngày là sẽ phát sinh các dữ kiện: độc tài vướng mắc, chiếm hữu, gần gũi lâu ngày cỏ rơm cũng phải cháy khô và lúc bấy giờ sẽ chẳng còn nước đâu mà dội tẩm cho mau nguội lạnh được. Khi chúng ta đang yêu thương mà không được gặp, không được nhìn thấy người yêu, thì ôi chao ơi! Là quá khổ sở, khổ ê chề, khốn đốn, tâm hồn ta quên ăn, quên ngủ, héo hắt, xác xơ vì nhớ người yêu da diết.

Nên Nguyễn Du trong thơ Kiều đã nói lên tâm trạng ấy: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Vậy mà không được gặp, không được nhìn thấy nhau, không được gần gũi bên nhau, thì đó là những nỗi cơ hàn, lạnh lẽo buốt giá, những nỗi buồn vu vơ nhớ trăng, thương gió buồn tủi sầu lụy của con tim đang chờ đợi thương nhớ mong mỏi da diết. Nên Đức Phật dạy:

"Yêu không gặp là khổ"

Vì trái tim đang chờ đợi trông ngóng người mình thương, chỉ cần nhìn thấy người thương một chút xíu thôi cũng đỡ nhớ thương rồi. Tâm hồn của chúng ta quá khổ đau trong khi đã biết yêu thương đó là những hạt giống của nguyên nhân tái sanh luân hồi nếu ta yêu thương mà làm khổ mình nhiều như vậy thì thà rằng đừng yêu cho xong. Vì khi thương ta muốn có hạnh phúc cho ta và cho người ta thương nếu tình thương bi lụy sầu khổ kéo theo những bi kịch thì thương làm gì?

Thà rằng không thương cho xong, chúng ta hãy thương như thế nào đó để ta còn là ta, để ta còn giữ được cái không gian của ta và người ta thương cũng giữ được cái không gian của người ấy. Thương mà không có đạo đức là ta đem khổ đau cho chính ta và cho người ta thương. Và gây thương tích cho chính mình. Chúng ta hãy luôn có chánh tri kiến và phải tự hỏi chính mình rằng: "là tình thương của ta có tính chất độc tài chiếm hữu và vướng mắc hay không?"

Ngay tình cha với con cũng vậy. Cha có thể nghĩ rằng con là vật sở hữu của mình: "Mày là con tao, vì vậy mày phải nghe lời tao, mày chỉ được học cái này, làm cái này và chơi cái này thôi, nếu mày không học cái này, không làm cái này, không chơi cái này thì mày không phải là con tao. Tao sẽ từ mày". Đó là tình thương độc tài có chiếm hữu áp đặt.

Hoặc ghét bỏ người con: "Mày đi đâu thì đi, mày không dính dáng gì đến tao nữa, mày không phải là con tao". Đó là tình thương độc tài áp đặt ghét bỏ.

Còn người tình thì nói với người tình: "Em không được đi chợ giờ đó, em không được mặc áo màu đó, em không được bôi thứ nước hoa đó". Đó là tình thương độc tài có chiếm hữu; còn em gái thì nói với anh trai: "Anh không được ở đó lâu phải về thăm nhà mau, nếu anh không về thì em sẽ đi đến chỗ ấy. Anh không được làm cái này, anh không được làm cái kia v.v…". Đó là tình thương độc tài áp đặt chiếm hữu và vướng mắc.

Đệ tử thì nói với sư phụ: "Sư phụ không được nói chuyện nhiều, không được nói với cô đó, chị đó, anh đó, em đó mà sư phụ phải nói cái này, chứ không được nói cái kia v.v…". Đó là tình thương có sự chiếm hữu độc tài và vướng mắc, áp đặt.

Vướng mắc là bản chất của tình thương khổ lụy. Tình thương mà Đức Phật muốn chúng ta thương yêu là tình thương không khổ lụy, không vướng mắc. Có người hỏi nếu tình thương không vướng mắc thì đâu phải là tình thương? Đó là tại vì ta chưa thấy được bản chất của tình thương đích thực. Trong mỗi chúng ta đều có khuynh hướng thương vướng mắc, độc tài chiếm hữu. Người trẻ cũng vậy mà người già cũng vậy, chị em, hay anh em ruột thịt cha và con, mẹ và con, thầy và trò, trò và thầy v.v… đều có khuynh hướng ấy, có nguyên do ở ngã chấp và vô minh. Vô minh và ngã chấp ấy đã trở thành câu sinh, nghĩa là khi sinh ra đã có như vậy rồi.

Thành thử ra khi thương một người, ta có khuynh hướng chiếm hữu người đó. Ta nói: "Người đó là người thương của tôi, anh không được đụng tới chị không được đụng tới", khi ta được thương ta cũng có khuynh hướng đó. Ta muốn rằng ta là đối tượng duy nhất của tình thương kia, người ấy đã thương mình rồi thì không được thương người nào khác nữa. Tình thương ấy có chất liệu của sự vướng mắc, của sự chiếm hữu, khi thương ta có khuynh hướng chiếm hữu người ta thương, ta nói: đây là "ta" và đây là "của ta" (ngã và ngã sở) tình thương ấy có tính chất độc tài.

Độc tài nghĩa là tôi thương anh thì tôi muốn anh không được thương người khác, không được làm cái này, không được làm cái kia, chỉ được làm theo ý muốn của tôi mà thôi. Tình thương bi lụy sầu khổ là sẽ có tính chất chiếm hữu độc tài và có nhiều vướng mắc.

Đôi khi trong tình đồng đạo cũng có một chút ít sự độc tài, vướng mắc và chiếm hữu ấy. Nếu có chút ít thì không sao, nhưng nếu mức độ ấy mà lên cao thì nó bắt đầu tạo khổ đau cho người thương và cho người được thương.

Chúng ta biết rằng trong thế gian có biết bao nhiêu bi kịch đã và đang xảy ra. Tại vì loại tình thương vướng mắc đó. Một mặt chúng ta thấy rằng: không có tình thương thì đời sống rất đau khổ, và mặt khác nếu tình thương độc tài vướng mắc và chiếm hữu thì cuộc đời cũng rất khổ đau. Phải không hỡi các bạn?

Cho nên thương nghĩa là hiến dâng hạnh phúc, thương không có nghĩa là nhốt người kia vào nhà tù chiếm hữu, người kia muốn đi đâu cũng không được, muốn làm gì cũng không cho, bị trói buộc, thành thử không có tự do, không có không gian để người kia được thở và nếu người kia không làm theo ý muốn của ta, thì ta rất đau khổ, trách móc giận hờn, ghét bỏ. Vì ta đã có tình thương độc tài, chiếm hữu, vướng mắc nên khi người kia không đồng ý là ta rất khổ đau.

Vì vậy người kia phải có can đảm đi và gan dạ nói rằng: "Này em, tôi rất đau khổ trong tình thương của em, em đã thương tôi bằng quá nhiều tính chất của sự vướng mắc, chiếm hữu và độc tài áp đặt. Tôi đã mất hết tự do, tôi ngột ngạt, bế tắt, tắt nghẻn sự sống, tôi không còn là tôi nữa. Em có hiểu biết điều đó chăng? Vì vậy tôi và em phải thấy rõ niềm đau và nỗi khổ của chúng ta, chúng ta phải ngồi lại để tìm ra một con đường có thể đem lại an bình và hạnh phúc cho cả hai ta".
Nếu nói không được, ta phải viết thư, có thể ta nên đi xa người ấy một tuần lễ, hay hai tuần lễ và trong hai tuần lễ đó ta viết một lá thư gửi về cho người ấy. Người ấy sẽ có không gian đọc để suy ngẫm và quán chiếu lại tình trạng đó, không có lý do gì mà cả hai cùng phải tiếp tục kéo lếch theo một tình trạng vướng bận và bi lụy như vậy.

Chúng ta hãy biết rằng: phải thoát ra khỏi hai cực: một cực là "vướng mắc" và một cực là "ghét bỏ". Ta bây giờ như con chim trong lồng, như một người tù trong ngục. Ta phải biết rằng muốn thoát ra khỏi vòng trầm luân đó, là phải cố gắng tu tập giải thoát cho mình, và giải thoát cho người thương của mình.

Tốt hơn hết lúc ban đầu, "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" chúng ta phải cẩn thận, thường thường tình thương lúc ban đầu có tính cách phơi phới khi đã đi sâu vào trầm luân rồi ta mới giật mình tỉnh thức, lúc đó có thể là đã rất trể. Ta có thể vùng vẫy muốn thoát ra và từ cực vướng mắc đi sang cực ghét bỏ. Ta nghĩ rằng khổ như thế này thì chỉ có cách lìa thoát người kia. Ly khai với người kia, đi xa người kia, tại vì còn sống chung một nơi thì còn phải trầm luân, còn phải vướng mắc.

Từ cực này ta đi sang cực khác cả hai cực đều không phải tình thương chân thật. Có khi ta đang vùng vẫy giữa hai cực. Ngày nào cũng là địa ngục hết. Một mặt chúng ta vùng vẫy, muốn thoát nghĩ đến chia tay với người kia. Hoặc đi đâu đó xa xôi cách trở không bao giờ còn thấy người đó. Một mặt chúng ta vẫn còn có chút ân tình với người đó nghĩ rằng nếu không có ta thì người đó sẽ mất chân đứng.

Ở Việt Nam ta thường nói: "Bỏ thì thương, sương thì nặng", sương nghĩa là gánh. Có rất nhiều người đang bị kẹt cứng trong tình trạng đó. Thấy người kia cũng tội nghiệp, bỏ thì không đành mà tiếp tục thì không tiếp tục nổi. Vậy đâu là con đường thoát? Con đường thoát là con đường phải cố gắng nỗ lực tu tập để thoát khổ của hai cực là "vướng mắc và ghét bỏ".

Thế nên Đức Phật rất cảm thông sâu sắc những tâm lý tình cảm của mỗi chúng sanh, chính là những di chứng của cái bể sầu khổ lụy trầm luân muôn ngàn kiếp đau thương ê chề gia đình, anh em, chị em, vợ chồng, con cái là những sợi dây ái kiết sử trầm luân nên Đức Phật đã nhắn nhủ:

"Các con hãy xa lìa nội tâm ái dục đi, các con hãy đoạn trừ tâm cấu uế ái dục thì mới chấm dứt trầm luân khổ đau".

Vì vậy Đức Phật mới khuyên dạy chúng ta:

"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác.
Yêu không gặp là khổ.
Oán phải gặp cũng đau".
Do vậy, cuộc đời mỗi chúng ta khi đã chấp nhận đi theo lộ trình giải thoát của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì phải đoạn trừ, xa lìa tâm luyến ái vấn vương này. Đó chính là mục đích tối thượng nhất mới chấm dứt hết đau khổ sanh tử luân hồi; đó mới chính là lời dạy này:

"Chớ gần gũi người yêu
Trọn đời xa kẻ ác"

Thưa các bạn! Những kẻ ác độc, những kẻ đại tiểu nhân thì chúng ta hãy nên tránh xa họ, vì chúng ta đang còn trên đường tu tập, nên chúng ta phải tránh né, phải cố gắng tạo duyên cảnh thuận lợi để được tu, chứ không nên lân cận với những kẻ tiểu nhân, vì lân cận với những kẻ tiểu nhân thì ta rất khó tu tập. Khi nội tâm còn rất non yếu, chưa đủ ý thức lực nội tại vững mạnh thì tốt nhất phải nên xa lánh những kẻ ác.

Chỉ khi nào tâm của chúng ta có đủ nội lực bén nhạy vững chãi thì lúc đó hãy nương vào tri kiến giải thoát, lấy đối tượng nghịch cảnh kia để xả tâm, tùy theo duyên nhân quả của mình mà chiến thắng quân ma ác pháp. Những lời dạy này của Đức Phật đã nhắn gửi đến chúng ta, Các bạn nhớ mãi đừng quên nhé!

"Chớ thân với bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thượng nhân"

(Kinh Nikaya Pháp Cú: II Panditavagga: Phẩm Hiền Trí (78.)

Khi đã có sự cừu oán với nhau rồi, chúng ta không thể ngồi chung bàn được, cả hai đều phải cởi bỏ sự thù oán bên trong nội tâm, phải nhận diện thông suốt lý nhân quả và nguyên nhân sự hận thù đó bắt đầu từ điểm nào khởi sự. Chúng ta hãy có chánh tri kiến chuyển hóa nhân quả của chính mình. Nhân quả do chính thân, khẩu, ý của chúng ta tạo thành, nên mọi sự hận thù cừu oán phải tự chính mình hóa giải tìm nguyên nhân phát sinh nên sự khổ đau ấy. Phải không hỡi các bạn?

Đức Phật dạy:

"Chớ nói lời thô ác.
Nói ác bị nói lại Khổ thay lời thù hận.
Hình phạt tất đến thân".
(Kinh Nikaya Pháp Cú: X: Dandavagga: Phẩm Đao Trượng (133.)

Thưa các bạn, những lời Phật dạy này đã gửi đến chúng sanh những ân đức rất thâm sâu vô cùng cao quý, biết bao nguồn năng lượng yêu thương của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thương xót nhân loại, đang chìm đắm trong biển khổ ái dục. Người đã thấu rõ mọi ngõ ngách tâm niệm và nỗi khổ của chúng sanh. Người đã trao gởi nhắn nhủ những lời rất tha thiết thương yêu cho mỗi chúng ta trên đường tu tập. Cho nên mọi người hãy nên lánh xa, buông xả những cạm bẫy ái tình đầy những niềm đau và nỗi khổ.

"Do vậy chớ yêu ai.
Ai biệt ly là khổ.
Những ai không yêu ghét.
Không thể có buộc ràng".

Vì vậy trên đường tu tập chúng ta chớ có yêu ai, chớ có vấn vương tình cảm một ai, chớ có để ý làm duyên, làm dáng với một ai, vì ái biệt ly là khổ. Một khi ta đang yêu thương người ấy, mà bỗng nhiên ta phải xa lìa người ấy hay bỗng dưng người ấy giã từ cuộc đời này, ra đi, biệt ly mãi mãi không quay về nữa (chết đột ngột) thì chúng ta sẽ rất khổ đau.

Bởi vì yêu là một tai nạn thương tích rất nặng trên đường tu tập. Cuộc đời chúng ta sẽ dở dang lở đời lở đạo, lở hiếu hạnh với cha mẹ. Ta đứng giữa ngã ba đường, bước tới không được, bước lui cũng không xong, dở sống dở chết. Rất đáng thương cho những người con đang có những tâm tư tình cảm như vậy, đang có những trăn trở nỗi khổ và niềm đau ấy.

Nên trái tim chúng tôi rất cảm thông, chúng tôi chỉ còn có một tâm nguyện mong sao các bạn cố gắng tu tập vượt thoát dòng sông ái dục mê muội đang cuồn cuộn chảy xiết, giữa sóng gió ba đào. Các bạn hãy cố gắng, và hãy cố gắng vượt lên…

Vì vậy, yêu và ghét là một tình trạng hiện thực rất tự nhiên trong mỗi con người. Chính đó là quy luật tự nhiên của quá trình duyên hợp của nhân quả. Nên chúng ta hãy cố gắng tu tập để chuyển hóa và giải tỏa mọi tâm lý tình cảm thương ghét của thất tình lục dục:

"Có vui mừng: hỷ
Có bực tức: nộ
Có yêu thương: ái
Có căm ghét: ố
Có lo buồn: ai
Không bệnh tật: lạc
Có tham dục: dục".

Hễ còn thương là còn ghét, hễ hết thương là hết ghét. Hết thương hết ghét là chấm dứt mọi sự khổ đau, tái sanh luân hồi. Vì vậy, khi gặp nghịch cảnh, chướng duyên đến, chúng ta cảm thấy tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự thì biết rằng: tâm của chúng ta đã có tiến bộ nhiều, giảm sút yêu và ghét, như vậy nội lực có mạnh hơn lên.

Khi cảm thấy tâm an lành trước mọi chuyện xảy đến mà tâm điềm đạm bình tĩnh không lo lắng sầu muộn, không chấn động rộn ràng. Lại còn có chánh tri kiến nhìn thấy các sự kiện xảy ra xung quanh ta đang sống đều do luật nhân quả tạo thành và tác động. Luật nhân quả tạo thành và tác động, cũng chỉ vì chúng ta đang còn sống trong vòng tay nhân quả. Do biết chủ động điều khiển nó, chính là không để cho nhân quả chi phối tâm ta. Muốn không để cho nhân quả chi phối tâm ta, là phải cố gắng làm chủ thân, khẩu, ý của mình.

Mỗi lời nói ra đều phải có chánh tư duy nên ta không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Mỗi khi muốn làm một điều gì đó, thì các bạn đừng vội vàng mà hãy chánh tư duy và tự hỏi: cái mà các bạn muốn làm có tốt không? Có thiện không? Khi đã chánh tư duy xong mới bắt đầu nói, hay làm, và như vậy bạn sẽ không làm khổ mình khổ người.

"Những ai không yêu ghét
Không thể có buộc ràng"

Đúng vậy, nếu chúng ta có chánh tư duy mỗi ngày thì sẽ không làm khổ một ai cả. Trong mỗi hành động tâm tư và ngôn ngữ ta đều có suy xét kỹ nên nói hay không nên nói? Nên chúng ta làm chủ nhân quả của thân, khẩu, ý. Giáo lý cốt lõi cơ bản của Đạo Phật chỉ có bấy nhiêu đó thôi, tức là tu tập làm chủ "thân khẩu ý" cho được thanh tịnh.

Mỗi một ngày chúng ta cố gắng tu tập làm chủ thân, khẩu, ý nên ta không yêu ghét, không có buộc ràng nên ta không đau khổ. Nếu chúng ta biết điều phục buông xả những tâm niệm thói quen tật xấu trong ta thì chúng ta đã lần lần chuyển hóa nhân quả.

Sự công phu tu tập nào cũng vậy, cũng phải đòi hỏi sự nhiệt tâm tinh cần mỗi ngày siêng năng bền chí tập luyện trau dồi tinh chuyên thì mới có kết quả năng lực nhạy bén nhanh chóng để làm chủ thân khẩu ý. Vì vậy chúng ta hãy cố gắng nỗ lực tu tập để làm chủ mọi hành động tâm tư ngôn ngữ của chính mình. Thì ta sẽ không còn yêu ghét buộc ràng khổ đau nữa. Phải không hỡi các bạn?

Con đường hết đau khổ là con đường thiện, bờ bên kia, con đường đau khổ là con đường ác, bờ bên này. Và ai muốn chấm dứt khổ đau thì chọn đường thiện, ai muốn khổ đau thì chọn đường ác.

Lộ trình của đau khổ là bờ bên này. Lộ trình hết đau khổ là bờ bên kia. "Tà" là đau khổ, "Chánh" là hết đau khổ; "ác" là đau khổ, "thiện" là hết đau khổ; "yêu ghét" là đau khổ, "không yêu ghét" là hết đau khổ. Bờ bên kia là đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh. Còn bờ bên này là vô đạo đức, sống thường làm khổ mình, khổ người khổ chúng sanh.

Giáo lý tinh hoa của nền đạo đức văn hóa Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ có bấy nhiêu đó thôi mà chúng ta tu hoài, tu mãi 10 năm 20 năm hay 30, 40 năm qua, mà vẫn chưa buông xả được yêu và ghét.

Nhiều kiếp đã trôi lăn trong vòng lục đạo tử sinh luân hồi, khổ lên, khổ xuống, bầm dập lỡ làng, quằn quại đau thương trần ai, quá ư là khổ sở ê chề, mà vẫn chưa xả ly được yêu và ghét. Nên ta bị buộc ràng khổ đau úa tàn héo hắt xác xơ cả xác thân lẫn tâm hồn tiều tụy lụi tàn, băng hoại vì thiếu chánh tri kiến và tấm lòng nhiệt huyết của con tim vì thiếu sự bền chí gan dạ tu tập. Nên ta đã bị vướng mắc và trói buộc trong "yêu và ghét".

Vì vậy chúng ta hãy cố gắng tu tập làm sao để vượt thoát lộ trình đầy đau khổ này: "yêu và ghét". Để cho tâm hồn và trái tim ta còn được một chút xíu thanh thản, an lạc và vô sự, không còn trói buộc vướng mắc trong yêu và ghét này nữa. Phải không hỡi các bạn?

Đọc đoạn kinh trên đây. Những lời dạy này của Đức phật chúng ta xét thấy sự giải thoát của Phật Giáo rất rõ ràng cụ thể dễ dàng không có khó khăn. Bởi vì chúng ta cần có chánh tri kiến hiểu biết thiện và ác là giải thoát ngay liền, như ở bên bờ này, liền qua bờ bên kia, không có khó khăn, không có mệt nhọc.

Chỉ có những ai quyết tâm tìm cầu một cuộc sống an lành, hạnh phúc thì sự giải thoát ở ngay trong tầm tay. Đó là sự rốt ráo tận cùng của Đạo Phật, nhưng phải thông hiểu chữ "yêu và ghét" như thế nào để biết mà giữ gìn tu tập và sống cho đúng nghĩa của nó, thì ước vọng của các bạn sẽ thành hiện thực trong đời nay.

Thân ái chào các bạn, chúc các bạn thành công trên đường tu tập.

(Bài Viết Của Tu Sinh Chơn Như)

Monday, April 30, 2018

Muốn có tướng mạo xinh đẹp, phúc hậu hãy làm theo những lời Đức Phật dạy

Có thể bạn chưa biết, nhiều người sinh ra tướng mạo không xinh đẹp nhưng càng lớn, về già khuôn mặt càng phúc hậu quý phái.
Vì vậy, muốn có dung mạo đẹp, trước cần nội tâm đẹp!
Khuôn mặt xinh đẹp là một loại phúc báo. Dù là phúc báo nào thì cũng có căn nguyên của nó, giống như tài phú đến từ bố thí, tôn quý đến từ khiêm cung, khuôn mặt xinh đẹp đến từ dịu dàng lương thiện. Đến tuổi trung niên, tướng mạo đã đi vào ổn định, cũng là thể hiện của tính cách một người.
Nhiều người hiền lành có khuôn mặt phúc hậu, người dịu dàng lương thiện có khuôn mặt xinh đẹp. Người thô bạo thường có vẻ mặt hung dữ; rất nhiều phụ nữ trung niên lão niên có tính cách không tốt, vẻ mặt thường cay nghiệt, cũng là tướng bạc mệnh, khắc chồng. Thực ra, tướng mạo không phải cố định từ khi sinh ra, mà nó là kết quả của quá trình tu tâm và hành động lâu dài. Cũng vì vậy, tướng mạo sẽ biểu lộ vận mệnh tương lai của một người. Xem tướng là một loại tích lũy kinh nghiệm, tướng tùy tâm sinh, từ mặt biết tâm, từ tâm biết mệnh.
 Hình: Hoa hậu ăn chay Trương Thị May

Vậy nguồn gốc khuôn mặt tuổi thiếu niên, thanh niên ở đâu? Đặc thù của tướng mạo có quan hệ với sự di truyền của bố mẹ, như màu da màu tóc, nhưng khuôn mặt dáng người cùng tiên thiên có quan hệ, mức độ xinh đẹp là dựa theo những đời trước mà bố trí.
Nửa đời trước của một người, là ảnh hưởng từ kiếp trước, nửa đời sau, chính là tự mình. Vậy mới nói, sau khi đến trung niên, cần phải chịu trách nhiệm với hành vi của chính mình.
Lòng từ bi cũng là một yếu tố quan trọng. Người có thiện tâm, thường từ trong ra ngoài tản mát ra một loại hào quang, càng khiến người thuận mắt, càng ngày càng thích tiếp xúc. Mà người ích kỷ, giảo hoạt, so đo, tất khó nhìn, thậm chí xấu xí; cho dù may mắn có khuôn mặt đẹp đẽ, thì trên mặt cũng sẽ dần hiện ra một vài chỗ khiến người không thích, người ta thường nói khuôn mặt không có duyên, chỉ lần đầu gặp hơi thuận mặt, tiếp xúc nhiều liền không còn thuận nữa.
Xin hãy tin rằng, tướng mạo là có thể từng bước thay đổi đấy! Nhất là một khuôn mặt xinh đẹp sẽ từ trong ra ngoài tản mát ra một lực hấp dẫn, khiến người gặp bất tri bất giác sinh lòng mến mộ. Nhiều khi, xinh đẹp hay không, chính là từ tâm mà nhìn, “Tình nhân nhãn lý xuất Tây Thi” chính là đạo lý này, tức là nhìn người mình yêu càng nhìn càng thấy đẹp.
Gương mặt con người thay đổi theo năm tháng, muốn trở nên xinh đẹp dễ nhìn bạn hãy làm theo những lời Phật dạy sau đây
 
 
Một, người cam tâm tình nguyện chịu thiệt, lại nhận được càng nhiều. Người có thể chịu thiệt, nhân duyên nhất định sẽ tốt, nhân duyên tốt, cơ hội tự nhiên sẽ nhiều. Mỗi người khi còn sống, có thể nắm bắt một hai lần cơ hội là đủ!
Hai, người thích chiếm phần hơn, cuối cùng chẳng chiếm được bao nhiêu, nhặt được một ngọn cỏ, mất đi một rừng cây. Người mà vừa đến lúc tính tiền liền kiếm cớ đi việc khác hoặc móc hoài không ra tiền, cơ bản đều là những người không có thành tựu gì.
Ba, người có ánh mắt tiểu nhân, tâm địa nhỏ hẹp. Lúc bạn bè hội tụ, nói ra ba câu, đều không thoát khỏi chuyện cá nhân, người này chính là ốc sên chuyển thế, nội tâm hư không, ích kỷ. Trong nội tâm chỉ có chuyện nhà mình, những chuyện khác liền không liên quan đến anh ta.
Bốn, chỉ có tiếc duyên mới có thể tục duyên, tức là vun bồi duyên phận. Trên đường đời, nhiều người chúng ta gặp, thật ra đều có duyên mới gặp được nhau, hơn một nửa người thân chính là bạn tốt trong đời trước, còn bạn tốt thì hơn một nửa là người thân trong đời trước, mang đến phiền muộn cho bạn vì hơn một nửa là người bạn đã từng gây tổn thương. Vì vậy cần nhớ: Đối xử tử tế với người thân, quan tâm người bên cạnh, khoan dung những người làm bạn tổn thương, vì đây đều là nhân quả
Năm, nội tâm vô khuyết gọi là phú, có thể bao dung người khác gọi là quý. Luôn vui vẻ không phải là một loại tính cách, mà là một loại năng lực.
Sáu, biện pháp giải quyết phiền muộn tốt nhất, chính là quên nó đi.
Bảy, tiếu khán phong vân đạm, toại đối vân khởi thì (cười nhìn gió mây nhạt, ngồi trông áng mây trôi).
Không giành là từ bi, không biện là trí tuệ, không nghe là thanh tịnh, không nhìn là tự tại, tha thứ là giải thoát, biết đủ chính là buông.
Tám, nội tâm không loạn, không khổ vì tình, không sợ tương lai, không giữ quá khứ.
Chín, kiếp này, bất kể thứ gì cũng sẽ không mang đi được, vậy nên hãy sống với hiện tại, cười với hiện tại, và hãy ngộ ngay bây giờ!


Theo: giadinhtiepthi.com

Wednesday, April 25, 2018

Hệ lụy của TÂM KIÊU MẠN!



Tâm kiêu mạn còn sinh ra một khát vọng ghê gớm hơn, chính là tham vọng quyền lực. Đây cũng là một bản năng rất sâu kín của con người, rất nguy hiểm. Sở dĩ người ta muốn có quyền lực bởi vì quyền lực cho người ta được quyền quyết định số phận của người khác, được người khác phải vâng phục, sợ hãi, cung kính.

Để tranh giành quyền lực, con người đã tưới máu khắp cả hành tinh này. Ở mức độ tranh giành quyền lực nhỏ, người ta chỉ công kích nói xấu nhau chút đỉnh. Nhưng ở mức độ tranh giành quyền lực lớn như cỡ quốc gia, sự tình không hề đơn giản, người ta sẵn sàng giết nhau không thương tiếc.

Nếu thích người khác phải nghe lời mình, chúng ta cũng đang ngấm ngầm có tham vọng quyền lực rồi đấy. Người tu đúng thích nghe lời người khác để diệt bản ngã, nhất là được vâng lời những kẻ trí tuệ đạo hạnh thanh cao. Người không biết tu thì thích được người khác vâng lời mình. Đó là dấu hiệu của kiêu mạn, tham vọng, ngã chấp, và dĩ nhiên là tội lỗi.

Kiêu mạn tàn phá công đức, nhân cách

Ở mức độ thấp, kiêu mạn phá dần những đức tính tốt của mình, làm cho mình trở nên xấu đi. Ngay cái ý niệm tự cho mình hơn người khác cũng là xấu rồi.

Còn ở mức độ lớn, kiêu mạn lộ ra bên ngoài khiến ta làm nhiều chuyện ác độc, có thể đọa địa ngục về sau.

Kiêu mạn luôn dẫn đến ô nhiễm, đó là nguyên lý tuyệt đối đúng ! Ô nhiễm được biểu hiện ra 5 điều sau đây: Nóng nảy – Tham ái – Tham dục – tham vật chất – Chuộng hình thức
Thứ nhất là nóng nảy. Khi có ngã mạn, chúng ta thường nỗi nóng dễ dàng khi có chuyện trái ý nghịch lòng.

Không phải người tu lúc nào cũng xuề xòa buông xuôi thụ động, mà đôi khi phải có thái độ rõ rệt trước việc làm sai trái của người khác. Nhưng khi la rầy, người nỗi nóng và người không nỗi nóng khác nhau rất xa. Người trầm tĩnh có thể nghiêm mặt để buộc kẻ có lỗi phải biết sợ, nhưng trong lòng không bị “bốc hỏa”. Còn người nổi nóng thì tâm bị “vỡ”, có cảm giác bốc hỏa thật sự trong lòng. Thái độ người này sẽ có vẻ dữ, hung hăng, đôi khi lóc chóc, có thể làm người ta sợ nhưng không phục lắm.

Tâm khiêm hạ làm chúng ta bình tĩnh, và có uy, có thể im lặng nhìn mà vẫn làm kẻ có lỗi phải sợ. Tâm kiêu mạn làm chúng ta nổi nóng, kém uy đức, khiến người khác không phục lắm.

Thứ hai là tham ái. Thứ ba là tham dục. Tham ái và 2 tham dục khác nhau một chút.

Tham ái là tình cảm thương yêu giữa nam và nử. Tham dục là sự ham thích về nhục dục. Thông thường thì tham ái đưa đến tham dục, ví như nam nữ yêu nhau rồi tiến đến hôn nhân. Nhưng cũng có khi không cần tình cảm vẫn có tham dục, ví như những trường hợp mua bán dâm mà báo chí vẫn đăng tải.

Khi kiêu mạn tràn đầy thì tham dục và tham ái sẽ từ từ hiện diện, dù trước đó chúng ta giữ được trong sạch. Có những người tu luyện theo một tông phái đặc biệt có thể phát triển loại thần thông chữa bệnh, tiên tri, thay đổi hoàn cảnh. Nhưng vì không khéo giữ tâm khiêm hạ nên người này dần dần bị kiêu mạn chi phối. Và theo quy luật khắc nghiệt của tâm lý, kiêu mạn xuất hiện thì tham ái và tham dục sẽ nối theo.

Thứ tư là tham vật chất.
Trước kia chưa kiêu mạn, chúng ta có thể sống thanh bai giản dị, không cần vật chất nhiều, dễ dàng bố thí, sống bình an trong hiện tại, không bận tâm tới thiếu đủ của ngày mai, không thích tích lũy. Nhưng nếu có kiêu mạn hiện diện trong tâm, mọi cái sẽ từ từ thay đổi. Chúng ta sẽ cảm thấy tiền bạc là quan trọng, thích giàu có, tích lũy, tham lam. Đó chính là dấu hiệu của ô nhiễm.

Thứ năm là chuộng hình thức.
Khi còn khiêm hạ, chúng ta chỉ chú trọng nhiều vào nội dung thực chất, vào tâm hồn trí tuệ. Hình thức dĩ nhiên cũng cần phải có nhưng không được quan tâm nhiều. Ví dụ đối với ngôi chùa, ta sẽ quan tâm nhiều về việc tu học của đại chúng hơn là tô điểm cảnh quan; ví dụ đối với việc làm từ thiện, ta sẽ quan tâm đến người cần giúp hơn là phô bày.

Khi nào chúng ta còn giữ được tâm khiêm hạ thì 5 cái ô nhiễm này tạm thời tránh xa mình một chút. Một chút thôi chứ không phải mất luôn. Rồi đến khi nào tâm ta xuất hiện kiêu mạn thì 5 cái ô nhiễm này ập tới liền. Vì vậy người tu phải khéo léo giữ gìn tâm khiêm hạ suốt đời để đừng bị ô nhiễm xâm chiếm. Chúng ta phải cảnh giác thường xuyên đối với tâm kiêu mạn, phải làm sao nhanh chóng nhận ra ý niệm kiêu mạn ngay khi nó vừa mới manh mún. Cái khả năng nhanh chóng nhận ra ý niệm kiêu mạn ngay khi nó vừa mới manh mún chính là trí tuệ trong tri kiến. Tri kiến trong đạo Phật chính là khả năng kiểm soát tâm niệm sai lầm của mình; còn những hiểu biết kiến thức chỉ là nền tảng ban đầu mà thôi.
(Ai Đó)

LÀM CON Ở VIỆT NAM THẬT KHÓ



Cách đây hai tuần, tôi chứng kiến một người mẹ chở con đi học về, vừa chạy xe vừa chửi con té tát ầm cả đường.

Tới đầu một con hẻm nhỏ trên đường LCT, chị ta dừng xe nhất định đuổi con xuống. Nhiều người can ngăn nhưng chị ta càng gào thét như phát điên. Đuổi mãi con bé không chịu xuống, chị ta cầm luôn cái mũ bảo hiểm quật thẳng vào mặt cháu.

Hóa ra cháu gái suốt 7 năm luôn là học sinh giỏi, nhưng năm nay cháu bị tụt hạng khiến mẹ thất vọng. Chứng kiến vụ việc từ đầu đến cuối, tôi rùng mình.

Chỉ trong năm ngoái, liên tiếp 5, 6 vụ học sinh lớp 5 đến lớp 10 tự tử vì học sút, không đáp ứng được mong mỏi của cha mẹ.


Làm con bây giờ khổ quá!

Chưa tượng hình đã bị lựa chọn. Ra đời đúng giới tính cha mẹ muốn thì cha chu toàn, mẹ hớn hở. Chẳng may trái ý thì cha bỏ bê, mẹ âu sầu. Mà nào phải chỉ cha mẹ, còn cả dòng họ bên nội, bên ngoại... Bạn bè của cha thì sẵn sàng xếp nhau "chiếu trên" hay "chiếu dưới" vì vợ... không biết đẻ! Thành ra mới chào đời đã bị coi là công trình thất bại!

Hầu như chẳng cha mẹ nào ở xứ ta cả đời chưa từng phết đít con, quát mắng con, ép buộc con, thậm chí chửi rủa con. Có đủ cơ quan, đủ các bộ luật bảo vệ trẻ con nhưng xứ ta có tâm lý coi chuyện dạy con là chuyện riêng của mỗi gia đình, người khác không can thiệp. Thầy cô nhiều khi còn được phụ huynh nhờ đánh cho cháu nên người. Mới có chuyện những đứa bé bị cha mẹ đánh, đâm, đốt... Đến khi bé ngắc ngoải, dư luận mới ào lên phẫn nộ.

Nhiều gia đình còn nhờ thầy xem mạng đứa con có hạp không, đẻ nó ra cha mẹ làm ăn phát tài hay điêu đứng. Chẳng may bà mẹ đau bụng đẻ đúng giờ "xấu" thì ôi thôi đứa trẻ dè chừng: nó sẽ là nguyên nhân để cha mẹ cắng đắng nhau.

Lớn thêm vài tháng, vừa dứt sữa đã bị nhồi ăn. Chỉ vì nhồi con ăn cho đủ "chỉ tiêu", cả nhà thành đám xiếc: ba đánh trống thổi kèn, bà ngoại múa hát, con chạy mẹ đuổi theo khắp xóm, gặp ai cũng nhờ dọa cháu một tí để nó sợ há miệng ra. Mặc kệ đứa bé la khóc, đút được muỗng bột nào thì cả nhà vỗ tay như U.19 Việt Nam mới ghi bàn.

Lớn nữa thì nhồi học. Mờ sáng con ngủ gật sau lưng, mẹ mắt nhắm mắt mở chở đến trường. Chiều tối con gặm bánh mì mẹ hoa mắt chở con từ lớp học thêm nọ sang lớp học thêm kia. Tối mịt về tới nhà nếu con chưa lăn ra ngủ thì phải khảo bài với mẹ. Không đạt học sinh giỏi thì chết, cả trường cả lớp đứa nào cũng học sinh giỏi, con mình chỉ tiên tiến thì nhục lắm!

Lên cấp 3, chọn nghề theo cha mẹ. Cha mẹ muốn con học y thì dù con chỉ mê nhạc họa, vẫn phải trợn mắt lên học mà thi. Cãi thì cha quát mắng, mẹ nỉ non, nội ngoại chì chiết. Rồi lại "cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư".

Đi làm vài năm, cha mẹ ra tối hậu thư "Thèm cháu". Thế thì phải lấy chồng lấy vợ, mà phải lấy người cha mẹ ưng, nếu chống sau này khó sống!

Con mình sanh ra nhưng ở chung với ông bà thì xem như cha mẹ mất quyền dạy con. Nó là cục vàng của ông bà, đụng vô là sanh chuyện.

Vợ chồng muốn ly dị, cha mẹ xúm vô khuyên can, thôi ráng sống vì con.
Ô hay, lấy nhau thì vì cha mẹ, mà khi không sống được nữa thì lại phải vì con! Vậy còn đoạn nào là sống vì mình?

Thật, làm con thời này quá khổ!

Một người bạn của tôi một ngày bất ngờ cảm thán, cả đời bao nhiêu ước nguyện riêng tư không làm được vì phải chiều lòng cha mẹ. Đến khi trả xong nợ cho cha mẹ, nhìn lại đời sống cá nhân thì đã già mất rồi.

Đó không phải một dạng bạo hành tâm lý thì là gì?

Tôi cho rằng trở thành cha mẹ là một cấp độ trưởng thành, phải học, chuẩn bị và sẵn sàng sửa sai trong thực hành. Nên tự mình sống cuộc sống của mình và để con cái sống cuộc sống của nó. Hãy yêu đứa con, đừng coi nó là một mối "đầu tư". Đừng sống giùm con, cũng đừng bắt con phải thực hiện thay cha mẹ những mong muốn chưa thành. Đừng ngã giá với con về sự hy sinh của cha mẹ.

Khi cha mẹ biết yêu chính mình thì các bi kịch bạo hành trẻ con, dù ở mức độ nào, dù tâm lý hay thân thể, sẽ giảm.


FB: Kiến thức là vô tận 

Thursday, April 12, 2018

Muốn tránh xa bệnh tật, hãy ăn thực phẩm tần số cao!

Chắc hẳn bạn đã từng nghe nói ăn thực phẩm này tốt hơn những thực phẩm khác, nhưng đã bao giờ bạn đọc hoặc nghe nói về các loại thực phẩm có tần số khác nhau chưa? Và muốn khỏe mạnh, tốt hơn hãy ăn các loại thực phẩm tần số cao?
 Nên đọc thêm bài: Tháp tần số thực phẩm và bài Tần số năng lượng con người

Trái cây tươi là thực phẩm tần số cao, tốt cho sức khỏe


Tần số ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

Các tế bào được tạo thành từ hàng triệu phân tử cực kỳ phức tạp. Các sinh vật được tạo thành từ hành triệu tế bào khác nhau của rất nhiều loại khác nhau. Do vậy, bất kỳ sinh vật nào cũng có tần số năng lượng, chúng chỉ khác nhau ở chỗ tần số năng lượng cao hay thấp mà thôi.

Xưa kia, người Hy Lạp cổ đại đã biết năng lượng và ảnh hưởng của nó đối với con người, động vật, thực vật và sức khỏe. Người Hy Lạp cổ đại biết rằng, nếu họ ăn những thức ăn có năng lượng tốt (tần số cao) sẽ mang lại “Agapi” nghĩa là tình yêu vô điều kiện.

Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh và thiết kế thiết bị để đo tần số của các bộ phận trên cơ thể con người. Các nhà khoa học nhận thấy rằng, một cơ thể khỏe mạnh ban ngày có tần số từ 62 – 68 MHz, bệnh khởi phát khi tần số xuống 58 MHz. Khi tần số của một người giảm xuống dưới phạm vi lành mạnh thì hệ thống miễn dịch bị tổn thương. Khi cơ thể bị cảm lạnh, tần số là 58 MHz, khi bị nhiễm cúm tần số là 57 MHz, tần số xuất hiện ung thư là 42 MHz…

Tác giả Terry Friedman viết trong “Freedom Through Health” rằng, tăng tần số sẽ khôi phục lại sức khỏe cho thân thể và giúp tâm trí hòa hợp với tinh thần. Ăn các loại thực phẩm tần số cao, loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực, sẽ giúp con người nâng cao năng lượng của cơ thể, giúp ý thức tốt hơn, và có thể giúp chữa lành những vết thương.

Tần số của thực phẩm tác động trực tiếp đến sức khỏe

Ăn các loại thực phẩm tần số cao (giàu năng lượng và dinh dưỡng) sẽ nâng cao rung động của chính cơ thể, kích hoạt tất cả 12 sợi ADN, qua đó giúp chúng ta khỏe mạnh và hạnh phúc hơn. Những thực phẩm này bao gồm: Trái cây tươi, rau quả hữu cơ, các loại thảo mộc...

Ngược lại, các thực phẩm có tần số thấp, ít giá trị dinh dưỡng có thể dẫn đến bệnh tật nếu ăn quá nhiều. Các loại thực phẩm tần số thấp gồm thịt, đường, thực phẩm biến đổi gene, thực phẩm chứa chất phụ gia hóa học… có rất ít hoặc không có năng lượng rung động tốt và dinh dưỡng cần cho cơ thể.

Dưới đây là những thực phẩm tần số cao và thấp, bạn có thể tham khảo lựa chọn:
Thực phẩm tần số cao

- Trái cây hữu cơ, rau tươi

- Thực phẩm chức năng tự nhiên, ví dụ như tảo xoắn spirulina

- Các loại trà thảo dược

- Các loại thảo mộc và gia vị

- Nước tinh khiết

- Các loại dầu lành mạnh như dầu olive và dầu dừa

- Các loại hạt

- Thực phẩm lên men

- Chocolate tươi

- Mật ong nguyên chất, siro phong (maple syrup)

- Cây họ đậu

- Ngũ cốc như lúa mạch, gạo nâu, hạt amaranth (loại hạt quý của người Inca), lúa mì.

Ảnh chụp trường năng lượng của một miếng thịt (thực phẩm tần số thấp) và một miếng táo (thực phẩm tần số cao) 


Thực phẩm tần số thấp

- Thực phẩm biến đổi gene, thực phẩm có hóa chất và thuốc trừ sâu

- Gạo trắng và tinh bột

- Đường, chất tạo ngọt

- Cà phê

- Nước soda

- Rượu

- Thịt, cá, gia cầm

- Thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp, thức ăn nhanh

- Thực phẩm đông lạnh

- Những loại dầu không lành mạnh như dầu hạt cải, hạt bông, dầu thực vật, bơ thực vật

- Sữa bò tiệt trùng

- Thực phẩm chiên rán, thực phẩm nấu bằng lò vi sóng.

Vân An H+





THÁP ĐỒ TẦN SỐ THỰC PHẨM


Phần chia sẽ sau đây của của cô Liên Hương mình thấy trong Group Thực Phẩm Hữu Cơ.

Sau đây là nội dung:

Các bạn thân mến, thời gian qua, nhiều bạn đã chuyển sang ăn chay vì sức khỏe cá nhân, vì nhận thức sát nghiệp, vì giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vì sự tu tập tâm linh… dù bất kỳ lý do nào chăng nữa thì đây cũng là một bước phát triển. Mình đăng lại THÁP ĐỒ TẦN SỐ THỰC PHẨM để các bạn dễ tìm. Khi chuyển sang ăn chay, các bạn nên bổ sung nhóm thực phẩm tần số cao ở đỉnh tháp [kể cả tinh dầu] để nhanh chóng khắc phục hội chứng cai nghiện chất độc nội sinh từ thịt thú.
- Mạ lúa mỳ.
- Phù du.
- Lục diệp tố Chlorophyll.
- Tinh dầu.
- Sô kô la nguyên.
- Rong biển.
- Hạnh nhân.
- Ca cao.
- Vi tảo Spirulina.

- Chanh yên [chanh vàng].
- Kỷ tử.
- Măng cụt.
- Chanh.
Đó là một số thực vật có tần số cao nhất. Sức khỏe của chúng ta ở mức 62-72MHz. Và đừng quên tắm ánh sáng mặt trời.

*** Các bạn chú ý, Chlorophyll người ta hay gọi là tảo xanh. Spirulina thường gọi là tảo lục hay tảo xoắn. Gọi như vậy dễ nhầm lẫn.

Tuesday, April 10, 2018

Tần số năng lượng của con người: Bí mật để hạnh phúc và trường thọ

Để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị nhiều căn bệnh mới xuất hiện trong xã hội hiện đại như căng thẳng, trầm cảm, rối loạn chuyển hóa, hay thậm chí là ung thư, AIDS, HIV… các nhà khoa học ngày nay đã bắt đầu tìm đến những phương pháp ngoài thuốc, như Thiền,  khí công – những biện pháp có tác dụng giúp người bệnh giải phóng những tư tưởng tiêu cực, yếu tố được chứng minh là nguyên nhân chính gây bệnh cho con người.

Tiến sĩ, bác sĩ tâm thần, nhà nghiên cứu nhận thức và giảng viên tâm linh nổi tiếng thế giới người Mỹ, ông David R.Hawkins (1927–2012), trong tác phẩm bán chạy nhất của mình, cuốn “Power vs Force” (Năng lượng tâm linh), đã chứng minh được mối liên hệ mật thiết giữa bệnh tật của con người và những suy giảm năng lượng trong cơ thể, đến từ những tư tưởng tiêu cực.
Để chứng minh điều này, ông đã dùng phương pháp thử nghiệm khoa học để đo tất cả các tư tưởng, suy nghĩ, cảm nhận của một người và từ đó ghi nhận được tần số rung động của ý thức hệ. Ông cho biết những người không được thương yêu hay có tư tưởng tiêu cực, oán giận, chỉ trích, hận thù người khác hoặc sống ích kỷ đều có tần số rung động thấp. Trong quá trình trách móc, hận thù người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ và nó cũng tạo ra nhiều áp lực trên cơ thể vì thế tần số rung động sẽ giảm và những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.
Lấy ví dụ một người vô gia cư. Họ thường cảm thấy thất vọng, tự ti, mặc cảm, chỉ muốn buông xuôi thì tần số rung động của họ chỉ ở mức 20. Tuy nhiên cách nhìn của người xung quanh đối với người vô gia cư này sẽ chỉ rõ tần số rung động của họ ở mức nào. Có người thì cho rằng vì họ nghiện ngập và nếu cho tiền thì họ cũng đem mua rượu hay cung phụng cho cơn ghiền. Họ nghĩ những người vô gia cư không nên tồn tại. Cảm nghĩ này cho thấy tần số rung động của người đó cũng chỉ ở mức 20. Điều thú vị là 2 hoàn cảnh nầy trái ngược nhau nhưng tần số rung động lại bằng nhau. Lại cũng có người khác muốn tránh xa khi thấy người vô gia cư vì có cảm giác sợ sệt hay vô cảm thì tần số rung động cũng chỉ ở mức từ 50-100.
Mức năng lượng tích cực
Các nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng tần số rung động có khoảng từ 1 đến 1.000, với 1 là thấp nhất và 1.000 là cao nhất. Cho đến nay, tần số rung động cao nhất mà Dr. Hawkins gặp được là 700. Khi một người có tần số đặc biệt mạnh, sự hiện diện của người này có thể ảnh hưởng đến từ trường trên diện rộng.
Ông lấy ví dụ về trường hợp của Mẹ Teresa. Cả hội trường tràn ngập bầu không khí hòa ái, khi bà lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình. Vì sao như vậy? Bởi tần số rung động của bà rất cao, từ trường của bà đến từ năng lượng từ bi, làm cảm động hết thảy môi trường  xung quanh.

Theo quan điểm y học, Tiến sĩ Hawkins tin rằng những suy nghĩ có sức mạnh và có tác động đáng kể đến sức khoẻ con người. Những suy nghĩ tích cực, lạc quan xuất phát từ một trái tim yêu thương là những yếu tố không thể thiếu để có một sức khoẻ tốt.
Mức năng lượng tiêu cực
Tiến sĩ Hawkins tiến hành khảo sát hàng chục nghìn trường hợp là bệnh nhân của ông trên toàn cầu, và kết quả luôn như nhau: khi tần số rung của một người dưới 200, người đó chắc chắn sẽ có bệnh.
Những tư tưởng đạo đức có tần số cao như lòng từ bi, tình yêu thương, sự khoan dung, và tính dịu dàng – mang tần suất từ ​​400 đến 500.
Ngược lại, những người thường tức giận, hay chỉ trích, trách móc, đố kị với người khác… sẽ có tần số rung động thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim mạch, v.v…
Bí mật để sống lâu
Điều thú vị là chế độ ăn kiêng và tập thể dục không phải là yếu tố quan trọng nhất để có tuổi thọ. Tiến sĩ Elizabeth Blackburn, người đoạt giải Nobel năm 2009 về sinh lý học, tổng kết các yếu tố sống thọ: Nếu bạn muốn sống hơn 100 năm, chế độ ăn uống hợp lý chiếm 25%, các yếu tố khác 25%, trong khi cân bằng tâm lý chiếm 50%. Để trở thành một trăm năm mươi, những điểm sau đây đáng để xem xét:
  • Tâm trạng tốt so với tâm trạng không tốt
Nếu bạn bồn chồn cả ngày và tâm trí của bạn tràn ngập sự tức giận, căng thẳng, tham lam và những suy nghĩ xấu, cơ thể bạn sẽ tạo ra các hoóc môn căng thẳng làm hỏng hệ thống miễn dịch.
Các nhà tâm lý học đã phát hiện ra rằng khi bạn cực kỳ tức giận, cơ thể bạn có thể tạo đủ hoocmon căng thẳng để diệt chuột. Tuy nhiên, khi bạn cảm thấy hạnh phúc, não của bạn sẽ tiết ra dopamine và các hoóc môn có lợi khác. Có một đặc điểm chung trong số những người trăm tuổi – tất cả đều có trái tim vui vẻ.
  • Thiết lập mục tiêu lành mạnh có thể tăng trưởng năng lượng cuộc sống
Khi mọi người không có một mục đích trong cuộc sống, cái chết thường trở thành mục tiêu cuối cùng của họ, và sức khoẻ tinh thần của họ bị ảnh hưởng. Duy trì một thái độ tích cực và một tinh thần phấn đấu để tìm cách đạt được một mục tiêu sẽ kích thích tế bào não và ngăn ngừa lão hóa sớm.
  • Nuôi dưỡng lòng từ ái và làm các việc thiện



    Các chuyên gia về tâm thần học nói rằng thực hiện những việc tốt làm cho trái tim bạn tràn ngập niềm vui, triệt tiêu các hormone gây căng thẳng, và tăng sản xuất các hoocmon có lợi.
  • Gia đình hài hòa
Một mối quan hệ hài hòa với các thành viên trong gia đình là một cách khác để ngăn ngừa sự phát sinh các hoocmon căng thẳng. Đồng thời, khi nhu cầu tình cảm của bạn được đáp ứng, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc.
Sau hơn 20 năm dài thử nghiệm lâm sàng, trong đó đối tượng thử nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên trên khắp Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Bắc Âu và những nơi khác, bao gồm các chủng tộc khác nhau, văn hóa, ngành nghề, khác biệt tuổi tác, tích lũy qua hàng ngàn lượt người và hàng triệu tư liệu ghi lại. Sau khi thông qua các phân tích thống kê phức tạp, ông đã phát hiện ra rằng các tầng ý thức khác nhau của con người đều tương ứng với các chỉ số năng lượng, từ đó thống kê ra được những mức tần số chủ yếu như sau :
  • Khai ngộ chính giác: 700 ~ 1000
  • Điềm tĩnh thanh thản: 600
  • Vui vẻ, thanh tĩnh: 540
  • Tình yêu và sự tôn kính: 500
  • Lý tính, thấu hiểu: 400
  • Khoan dung độ lượng: 350
  • Hy vọng lạc quan: 310
  • Tin cậy: 250
  • Can đảm, khẳng định: 200
  • Tự cao, khinh thường: 175
  • Ghét, thù hận: 150
  • Dục vọng, khao khát: 125
  • Sợ hãi, lo lắng: 100
  • Đau buồn, tiếc nuối: 75
  • Thờ ơ, tuyệt vọng: 50
  • Khiển trách, tội ác: 30
  • Nhục nhã, hổ thẹn: 20
Vị tiến sĩ cũng cung cấp những thực tế thú vị mà ít người biết về tần số rung động dưới đây:
– 85% dân số trên toàn thế giới có tần số rung động ở mức dưới 200.
– Tần số rung động cao gắn với sự khỏe mạnh, tần số rung động thấp gây ra trạng thái ốm yếu/bệnh tật. Từng suy nghĩ, cảm xúc, lời nói, hành động, cũng như mỗi khoảnh khắc mà con người trải qua trong ngày đều đi về một trong hai hướng nêu trên.
– Sách, thực phẩm, nước uống, quần áo, người, động vật, các tòa nhà, xe hơi, phim ảnh, thể thao, âm nhạc… đều có thể hiệu chỉnh tần số rung động từ thấp lên cao.
– Hầu hết phim ảnh  sẽ làm suy yếu những người xem chúng bằng cách đưa các mức năng lượng xuống dưới 200.
– Những cuốn sách/tri thức mang tần số rung động cao: Kinh Vệ Đà (910), sử thi Ramayana (810), giáo lý Thiền (795), sử thi Mahabarata (780), Tâm Kinh và Kinh Pháp Hoa (cùng 780), Kinh Koran và Kinh Kim Cương (cùng 700)…

Dự đoán mức 1000 dành cho những bậc giác giả hay là tần số của Thần Phật.
Như vậy, bệnh tật bản thân nó sẽ không còn là điều đáng sợ, khi ta biết được nguyên nhân gây ra nó và phương cách để loại bỏ nó. Bạn hoàn toàn có thể tự chữa lành mọi tổn thương về thể chất và tinh thần khi biết chọn cho mình một lối sống phù hợp với những năng lượng tích cực.
Tham khảo: VisionTimes
An Nhiên
Nguồn: ĐKN

Sách nói: LỜI PHẬT DẠY - biên soạn: Thích Tánh Trí

Sách nói LỜI PHẬT DẠY do Đại đức Thích Tánh Trí biên soạn, qua hai giọng đọc phật tử Chúc Sen và Thiện Nghĩa. Ước nguyện LỜI PHẬT DẠY...