21. Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế. Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tin tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này các tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tư duy.
Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.
Này các Tỷ kheo, và thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh định? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh định.
Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt đạo thánh đế.
Showing posts with label Tứ Niệm Xứ. Show all posts
Showing posts with label Tứ Niệm Xứ. Show all posts
Friday, April 20, 2018
TẬP ĐẾ
19. Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu?
Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời thân thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, à sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở thanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ... ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ai. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đây.
Ở đời sắc tầm ... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu?
Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời thân thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, à sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở thanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ... ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ai. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đây.
Ở đời sắc tầm ... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
DIỆT ĐẾ
20. Này các Tỷ kheo, và thế nào là Khổ diệt Thánh đế? Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy).
Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đâu, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đâu? Ở đời các sắc gì thân, các sắc gì ái, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy. Ở đời lỗ tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các mùi hương... ở đời các vị.. ở đời các xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở sanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ.. ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc tưởng... ở đời thanh tưởng... ở đời hương tưởng... ở đời vị tưởng... ở đời xúc tưởng... ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc tư... ở đời thanh tư... ở đời hương tư... ở đời vị tư... ở đời xúc tư... ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc ái... ở đời thanh ái... ở đời hương ái... ở đời vị ái... ở đời xúc ái... ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc tầm... ở đời thanh tầm... ở đời hương tầm... ở đời vị tầm... ở đời xúc tầm... ở đời pháp tàm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Ở đời sắc tứ... ở đời thanh tứ... ở đời hương tứ... ở đời vị tứ... ở đời xúc tứ... ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế.
KHỔ ĐẾ
18. Và này các Tỷ kheo, thế nào Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi. khổ, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
Này các Tỷ kheo thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của họ, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sanh.
Này các Tỷ kheo, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới hạn, sự niên lão, sự hủy hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này các Tỷ kheo, như vậy là già.
Này các Tỷ kheo, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là chết.
Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là sầu? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu, sự sầu lo, sự sầu muộn, nội sầu, mọi khổ sầu của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sầu.
Này các Tỷ kheo, thế nào là bi? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác ; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là bi.
Này các Tỷ kheo, thế nào là khổ? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là khổ.
Này các Tỷ kheo, thế nào là ưu? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là ưu.
Này các Tỷ kheo, thế nào là não? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là não.
Này các Tỷ kheo, thế nào là cầu bất đắc khổ? Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối, mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh". Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ! Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị già chi phối... chúng sanh bị bệnh chi phối... chúng sanh bị chết chi phối.. chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối! Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu, não". Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy là cầu bất đắc khổ.
Này các Tỷ kheo, như thế nào là tóm lại, Năm Thủ uẩn là khổ? Như Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, như vậy tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
Này các Tỷ kheo thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của họ, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sanh.
Này các Tỷ kheo, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới hạn, sự niên lão, sự hủy hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này các Tỷ kheo, như vậy là già.
Này các Tỷ kheo, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là chết.
Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là sầu? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu, sự sầu lo, sự sầu muộn, nội sầu, mọi khổ sầu của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sầu.
Này các Tỷ kheo, thế nào là bi? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác ; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là bi.
Này các Tỷ kheo, thế nào là khổ? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là khổ.
Này các Tỷ kheo, thế nào là ưu? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là ưu.
Này các Tỷ kheo, thế nào là não? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là não.
Này các Tỷ kheo, thế nào là cầu bất đắc khổ? Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối, mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh". Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ! Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị già chi phối... chúng sanh bị bệnh chi phối... chúng sanh bị chết chi phối.. chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: "Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối! Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu, não". Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy là cầu bất đắc khổ.
Này các Tỷ kheo, như thế nào là tóm lại, Năm Thủ uẩn là khổ? Như Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, như vậy tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
Wednesday, February 28, 2018
QUÁN THÂN TRÊN THÂN
Hỏi: Kính thưa Thầy, sau mười ngày tu tập quán thân trên thân theo pháp Tứ Niệm Xứ, bản thân con gặp trở ngại vì thiếu căn bản nhiếp tâm và an trú tâm trên hơi thở trong thời gian tối thiểu 10 phút theo lời Thầy dạy, nên ngồi tu Tứ Niệm Xứ không đạt kết quả đúng yêu cầu. Vì vậy, con kính xin Thầy cho con trở lui tu tập để nhiếp tâm cho được trên hơi thở và tiến lên an trú tâm cho được trên thân hành. Sau khi hoàn toàn làm chủ được hai công hạnh này, con sẽ xin Thầy tu Tứ Niệm Xứ trở lại.
Đáp:
Ở đây mình mới tập quán thân, coi quán được hay không. Nó quan trọng là ở chữ QUÁN THÂN. Quán thân là cảm giác toàn thân chứ không phải là đứng ở một cái điểm nào trên thân, mà phải ở toàn thân. Đó là điều quan trọng của sự tu tập Tứ Niệm Xứ, “Quán thân trên thân để khắc phục tham ưu”.
Cho nên, khi quán được thì nó nhiếp phục được niệm, không còn một niệm gì hết, bởi vì pháp Tứ Niệm Xứ đặc biệt vô cùng. Mới đầu mình tu Tứ Chánh Cần, ngăn ác diệt ác thì là Định Niệm Hơi Thở, Định Sáng Suốt, Định Chánh Niệm Tĩnh Giác và Định Vô Lậu, bốn pháp đủ trong đó, nên khi tới Tứ Niệm Xứ thì nó đã ly dục ly ác pháp rất nhiều, chỉ còn ác pháp vi tế thôi, vì vậy mà khi trên thân quán thân thì chỉ cần nhìn tổng quát cái thân là đã nhiếp phục hết tất cả mọi cái. Nó quan trọng như vậy, cho nên cần tập quán cho được, bởi nó ở lớp thứ 7 là Chánh Niệm, cho nên tập phải quán cho được, mà nếu quán không được thì coi như không tu Tứ Niệm Xứ được, mà nó phải tu Tứ Niệm Xứ trong 4 oai nghi, bởi Tứ Niệm Xứ phải tu trong 4 oai nghi chứ không thể chỉ tu trong một oai nghi được. Đi, đứng, nằm ngồi đều quán được hết, quán toàn thân.
Cái mà con phải nhận ra cho được, quán cho được thì cái đó rất quan trọng. Cho nên, bây giờ con tập ngồi con cảm giác hết toàn thân của con mà không có bị tưởng, thí dụ mình nương vào hơi thở mà nếu mình thấy hơi thở luồn trong thân của mình thế là không được. Cũng như Thầy nói mình dùng đôi mắt nhìn ngón tay thì mình thấy từ đầu ngón tay tới chân ngón tay. Đó là quán toàn ngón tay của mình. Quán thân cũng vậy, nhưng mình không cúi xuống nhìn thân mình. Quán mà cứ cúi xuống nhìn thân thì không đúng lắm, thật sự ra mình nhìn xuống thì mắt mình thấy cái thân.
Còn khi mình cảm nhận cái thân thì mình thấy cái tâm nó quay vô, có cái dạng tâm quay vô, do đó tâm mình không phóng dật, nó quay vô thì tâm không phóng dật. Nó quay vô quan sát trên thân suốt trong thời gian tu thì nó nhiếp phục được tham ưu. Cho nên, tâm không phóng dật là tâm đã nhiếp phục được tham ưu, vì vậy đức Phật nói: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”. Con thấy câu nói này và khi con quan sát cái thân thì thấy đúng như thế, cái tâm quay vô thật, nó nhìn cái thân của nó, không phải nhìn bằng mắt, nhưng mình ngồi bình thường mà mình cảm nhận cái thân tức là cái ý thức của mình nhận ra toàn diện cái thân của mình. Tương tự với hơi thở, khi đi mình cũng nương vào bước đi để nhận ra cái thân.
Thầy nói nương vào bước đi thì khi mình đi, cái thân của mình có nhiều sự chuyển động theo chuyển động của cái chân nên cảm giác toàn thân rất dễ. Cho nên, khi ta ôm pháp Tứ Niệm Xứ tu 1, 2, 3 giờ liên tục mà không bao giờ có một niệm nào xẩy ra, nó an ổn vô cùng. Khi mình quán được thì nhiếp vào thân rất là nhanh chóng. Nhưng khi quán không được thì nay trật cái này, mai trật cái kia, rồi khổ nổi thay vì mình lấy cái thân hành để quán cái rung động của cái thân, như lời đức Phật dạy: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra”, hoặc là “Cảm giác thân hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác thân hành tôi biết tôi thở ra”, tức là đức Phật đã gợi ý cho mình biết trên thân quán thân, thì mình lại hay chế ra cách này kia.
Như bên nữ, theo các thư gởi cho Thầy, thì họ phần nhiều là tu theo lối Chuyển Pháp Luân của ngoại đạo, cứ dẫn ý chạy lên trên đầu, thở ra; rồi chạy xuống chỗ này chỗ kia, vòng vòng, nhiều khi lại còn tác ý nữa, tác ý theo tưởng luồng hơi đi tới đầu, chân, đầu gối... đặng cho nó nhớ. Cách thức đó là cách thức Chuyển Pháp Luân của ngoại đạo, không phải là pháp của đức Phật. Không được! Tập như vậy đâu đúng. Thầy bảo tập phải cảm nhận cho được cái toàn thân, không phải điểm này, điểm kia, cũng không phải phần này phần khác. Tập được như vậy thì mới tu Tứ Niệm Xứ được, nếu không được thì trở về tu tâm xả.
Tu tâm xả thì ngồi chơi mà có niệm gì, có chướng ngại gì thì mình đuổi như là mình tu Tứ Niệm Xứ trên 4 Chánh Cần cho chắc ăn. Nhưng khi nó yên lặng thì nó quay vô quan sát thân nó. Đầu tiên khi mình ngồi thì nó thấy hơi thở, nhưng đừng có bám vào hơi thở, bám vào là sai. Thấy hơi thở thì mặc nó, chỉ quan sát trên thân mà thôi. Thế thì cũng giống như Tứ Niệm Xứ. Nhưng phải biết cách để đừng bám vào hơi thở, chứ cứ bám vào hơi thở là trật, là bị ức chế. Trong khi được tâm yên lặng thì tâm lại bị ức chế thì lại sai, mà trong khi nó động mà mình lúc nào cũng động để đuổi cái động đó thì cũng sai, không đúng. Đuổi cái động để cho nó đi vào cái tịnh thanh thản, an lạc, vô sự. Nhưng khi nó thanh thản, an lạc, vô sự rồi thì nó ở đâu? – Nó phải ở trên thân nó, giống như trở về Tứ Niệm Xứ, nhưng nếu không biết, thì chúng ta lại ức chế tâm trong hơi thở thì rất là nguy hiểm.
Vậy thì con tu Tứ Niệm Xứ như thế nào trình lại cho Thầy biết, rồi con ngồi, Thầy lắng nghe cách con tu đúng hay không? Bởi vì khi ngồi quán đúng thì nó không niệm, mà quán trật thì có niệm, quán trật mới có niệm. Quán trật là con biết ngay liền.
Thí dụ con ngồi 30 phút thì không niệm, nhưng nếu con ráng hơn nữa thì sức của con sẽ yếu, khi quán yếu thì sẽ có niệm vô. Hoặc là con ngồi 2, 3 tiếng đồng hồ mà con thấy có hôn trầm thùy miên tức là tu quá sức của con nên không thể nào con tránh hôn trầm thùy miên được. Do đó tập quán cũng phải tăng lên dần từ từ. Quán được lâu tới đâu thì phải chủ động tới đó, tức là chủ động nhiếp phục tham ưu tới đó. Cho nên, tu theo 4 oai nghi thì không bao giờ có sự mỏi mệt, không bao giờ có sự tê chân hoặc là chướng ngại nào do cảm thọ khổ, chỉ có cảm thọ lạc thôi, các cảm thọ khổ không có.
Đó, trên Tứ Niệm Xứ là phải tu tập như vậy. Cho nên, khi tu tới đâu thì các con biết tới đó, tu được hay không được là biết liền. Vô Tứ Niệm Xứ quán thân trên thân để nhiếp phục tham ưu, không bao giờ còn tham ưu, mà chỉ có lạc, nhưng chúng ta cũng không chấp nhận cái lạc mà quên cái quán thân, cho nên lúc nào cũng ở trên thân, thân lúc nào cũng hiện tiền. Và nhanh chóng lắm, nó là một pháp duy nhất mà đi đến cứu cánh, chỉ trong 7 ngày, 7 tháng, 7 năm.
Kinh nói 7 năm nhưng thật ra không tới 7 năm đâu. Khi con nhiếp được đúng 7 ngày tâm thanh thản, an lạc vô sự trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi không bị buồn ngủ, luôn luôn tỉnh táo mà thấy an lạc, nằm xuống nó cũng không ngủ đâu, nó rất tỉnh mà tâm lúc nào cũng ở yên trên thân, thấy từ trên đầu tới chân rất rõ, rất tỉnh, mà thấy nhanh chứ không phải thấy từ từ như khi mình đi.
Nó quan sát thân y như một ngọn đèn từ xa rọi chiếu vào thân của nó, thấy rõ ràng toàn thân mà khi định tĩnh càng cao thì nó thấy thân nó càng rõ ràng hơn. Đó là định tĩnh, mà đã được định tĩnh thì tâm nhu nhuyến dễ sử dụng, nghĩa là nó bám chặt trên toàn thân để quán thì đương nhiên là nó được định tĩnh rồi. Cho nên, nó đã định tĩnh thì phải nhu nhuyến dễ sử dụng, chứ không còn khó, vì vậy mà nó có đủ Tứ Thần Túc.
Cho nên, bây giờ mình tập quán, quán được rồi thì mình mới nối tiếp từ oai nghi này tới oai nghi khác. Nối tiếp các oai nghi được trong một giờ, đến hai giờ rồi thì bắt đầu kéo dài, tăng thời gian lên; còn chưa đủ sức nối tiếp các oai nghi như thế mà tăng thời gian lên thì coi chừng.
Con quán thân được trong mỗi oai nghi, nghĩa là con quán thân trong oai nghi ngồi trong thời gian 30 phút được rồi thì con bắt đầu tập quán thân trong oai nghi đi, rồi đứng, rồi nằm cũng được 30 phút hết rồi thì con bắt đầu tu thay đổi từ oai nghi này sang oai nghi khác. Cứ ngồi 5 phút thì con đứng dậy đi 5 phút; đứng lại 5 phút; nằm xuống 5 phút; lúc nào cũng giữ tâm trên thân được như vậy; và cứ tiếp tục như vậy để cho nó quán thân trên thân trong tất cả 4 oai nghi của nó, không nhất thiết theo một thứ tự nằm, ngồi, đi, đứng nào cũng đều quán thân trên thân được không thay đổi, không mất niệm thân. Sau khi quán được đủ cả 4 oai nghi rồi, nối kết được đủ cả 4 oai nghi rồi thì lúc đó mới bắt đầu tăng giờ, chứ chưa nối kết được mà tăng giờ là sai. Không được, nó sẽ lọt vào trong tưởng pháp, nó trật đi. Điều chánh yếu là con phải biết quán và QUÁN THÂN cho được, chứ không thể không quán thân được, phải quán thân cho rõ ràng.
Bây giờ con trình bày cho Thầy cách thức quán như thế nào, như khi con đi thì con cảm nhận toàn thân của con từ trên đầu xuống tới chân như thế nào, thân rung động như thế nào.
Khi con đi muốn cho tâm chỉ biết cái thân rung động thôi thì con để hai tay sau lưng hoặc khoanh tay trước bụng rồi con đi con sẽ thấy sự rung động của nó cụ thể và con chỉ nên tập lâu nhất là nửa giờ thôi, đừng lâu hơn. Khi trong nửa giờ đi đó mà thấy lúc nào cũng quán thân được, tức là đi thấy thân mà không có một niệm nào khác xen vô, nó nhiếp phục tham ưu trên cái thân của nó trong khi đi, nó không bị hôn trầm thùy miên, không phóng niệm, không phóng dật, nó có một trạng thái bất động yên lặng, chỉ cảm nhận rõ ràng sự rung động trên thân thôi thì con đã thành tựu được quán thân trong oai nghi đi.
Khi quán thân trong oai nghi đi đã thành tựu được rồi thì con mới thay đổi qua oai nghi ngồi, rồi đứng, rồi nằm. Và trong cả 4 oai nghi đó đều y trang một cái quán thân như vậy hết thì lúc đó mới bắt đầu tăng giờ lên.
Thầy cho các con tu quán chỉ trong 30 phút thôi, đừng quán quá nhiều lâu. Quán quá lâu trong một tư thế, sau đó các con thay đổi, các con chưa có nắm chặt những cái oai nghi khác thì khi thay đổi lại quán cách khác, nhiều cách quán quá là trật. Phải chọn lấy duy nhất một sự quán cho đúng, chứ không phải khi mình đi thì mình quán như vầy, khi mình ngồi thì mình quán khác thì không được. Phải y chang một cái quán thôi thì nó mới là một pháp độc nhất. Chứ một lát quán cách này, lát quán cách khác thì không được. Thầy nhắc nhở như vậy để biết nhớ và thực hành cho đúng.
Đúng ra thì Thầy phải kiểm tra các con tu, nhưng vì Thầy không có nhiều thì giờ, vì muốn kiểm tra thì Thầy cũng phải mất ít nhất mỗi người một tiếng để tâm Thầy cũng phải yên lặng lắng đọng mới nghe, mới theo dõi từng tâm niệm của mấy con. Thầy bây giờ phải vừa trả lời thơ, vừa trả lời các thắc mắc của các cô, bên nam thì ít chứ bên nữ quá nhiều. Không biết quý thầy tu ra sao, Thầy nghĩ chắc cũng sai chứ không đúng. Nhiếp tâm đâu phải dễ, vì nó nhiếp phục được thì nó phải khắc phục được tham ưu liền. Mình tu mà quán được thân thì nhiếp phục được, quán trật thì nhiếp phục không được, nó có niệm xẹt ra. Mà có niệm khởi là coi chừng quán sai, hoặc là mình tu tập quá sức của mình, mình tu tập chưa được nhuần nhuyễn mà mình muốn dài. Mình thấy được an một chút thì đã lo tăng giờ lên là mình cũng tham rồi, không đúng. Thí dụ Thầy cho 30 phút thì mình cứ tu 30 phút rồi xả nghỉ, rồi chút nữa mình tu tiếp 30 phút khác, coi có giống nhau hay khác nhau, đừng tu 30 phút này mình quán như vầy mà 30 phút sau mình lại quán khác. Mà nếu quán đúng nhau như vậy hết thì Thầy sẽ đặc cách cho lên lớp tu cao hơn.
Cho nên, con trình cho Thầy nghe cách con quán như thế nào rồi Thầy chấp nhận chỗ nào thì con về cứ duy nhất chỗ đó như thế mà tu tập và chỉ tu tập trong 30 phút thôi. Sau khi tu 30 phút đó mà được rồi thì Thầy sẽ chịu khó để ra 30 phút để kiểm tra. Sau khi đã thấy con tu đúng như thế rồi thì Thầy sẽ cho con thay đổi oai nghi. Chứ đừng vội! Nhiều khi tự con thay đổi oai nghi Thầy không nắm vững, không biết con đã nhiếp như thế nào. Thầy cần nắm rõ tâm của con trong khi đi rồi mới chấp nhận cho con thay đổi oai nghi mà tu tập. Bắt đầu con ngồi, Thầy theo dõi tâm của con xem con quán cái thân con có giống y như khi con quán thân con trong khi con đi không? Giống thì Thầy chấp nhận mà không giống thì Thầy không chấp nhận. Có như vậy thì con sẽ nhiếp phục được.
Tu 30 phút thì Thầy tin các con sẽ làm được không có niệm. Quán biết cho rõ cái thân của mình trong 30 phút thì không niệm. Mình không ức chế nó mà mình quán sát thân của mình thôi, quán sát được và quán sát đúng thì tự nó không có niệm khởi ra xen vô. Mình cứ biết rõ từ trên đầu tới chân, từ chân lên trên đầu theo hơi thở đi ra, hơi thở đi vô, mà không phải là Chuyển Pháp Luân.
Hầu hết người ta Chuyển Pháp Luân nhờ nhiếp tâm mà người ta không vọng tưởng nhưng lại sanh ra tưởng, cho nên nó sai. Mình quán như cái đèn pha chiếu soi vào, cái ý thức của mình soi vào nó thấy toàn thân của nó. Mình không thể nào dùng con mắt mà nhìn, cho nên mình dùng cái cảm nhận, mà cảm nhận thì chỉ có sự rung động. Con hiểu chỗ Thầy muốn nói không?
Tuy Thầy nhìn xuống như vầy nhưng Thầy thấy cả từ trên đầu xuống tới chân. Con mắt Thầy nhìn như vầy nhưng không phải Thầy thấy bằng mắt mà cái ý của Thầy thấy xuống tới dưới chân, Thầy thấy tới cái mặt của Thầy nữa. Cái thấy mà Thầy nhìn vầy như cái đèn pha nó soi xuống. Nếu mắt mình cứ nhìn xuống mà nhìn hoài như vầy thì sẽ hư thị lực, mõi mắt, bởi vì mình cứ nhìn chăm chăm vào thân để mình có cái ý thấy liên tục toàn thân của mình, chứ nếu mình nháy mắt thì nó làm mình bị mất đi một khoảng thời gian không thấy thân mình khi nháy mắt. Còn đằng này mình cảm nhận. Cái cảm nhận luôn luôn có, không bị cái gì làm cho sự cảm nhận gián đoạn, trừ khi mình không đạt sự nhiếp tâm và an trú tâm. Cho nên sự cảm nhận sự rung động của thân mình luôn luôn có mặt theo hơi thở. Mình không thở nhưng buộc nó phải có hơi thở. Khi mình đi thì hành tướng đi rất thô, cái rung động nó lớn hơn, dễ nhận ra các rung động đó. Cái quán thân khi đi đã nhận ra được rồi thì sau đó đi tới cái vi tế hơn, đó là cái rung động nhẹ trong khi hít thở lúc mình ngồi sẽ dễ nhận ra. Còn cái quan sát thân khi đi mà chưa nhận được thì Thầy thấy cái quan sát thân khi ngồi với rung động nhẹ thì khó nhận ra, rồi mình sẽ bị tưởng, tưởng luồng đi trong cơ thể của mình chứ mình chưa thấy sự rung động nhẹ của nó. Mình phải kinh nghiệm mọi trường hợp như thế để biết cái khó, cái dễ.
Cho nên, nếu ai mới vô mà muốn ngồi để quán thân trên thân thì người đó dễ sanh tưởng theo những pháp môn của ngoại đạo. Thầy cũng biết khi cho đề tài quán thân trên thân mà ngồi thì sẽ dễ bị tưởng, chỉ có người siêng đi kinh hành thì người đó khó bị tưởng, không bị tưởng, bởi cái thân khi đi nó rung động dễ dàng cảm nhận hơn. Nếu khi đi mà không nhận được cái thân hành thì người ta còn có cách đi chậm và mạnh, để cho cái thân nó động cụ thể hơn, thấy rõ hơn để cảm nhận được cái rung động của toàn thân từ trên đầu cho tới dưới chân; cảm nhận cái độ nghiêng của thân khi chân dở lên, bước chân đưa tới, khi đặt chân xuống, thành ra cái thân của mình cứ bị lúc lắc sàng qua bên phải bên trái qua lại, rồi thân nghiêng tới trước khi đẩy mình đi tới, cái thân của mình khi chân bước tới thì nó được đưa lên cao rồi chuyển xuống thấp theo bước chân. Nói chung toàn thân mình từ trên đầu cổ, xuống tới thân mình tay chân đều có sự chuyển động rung chuyển liên tục trong mỗi bước đi.
Cho nên, nhiếp tâm trong khi đi kinh hành mà chỉ có một cái quán như vậy và chúng ta thuần thục thì nó dễ lắm. Tập một thời gian một tuần lễ thì chúng ta sẽ thuần thục. Sau đó tới khi ngồi thì với hơi thở nhẹ nhàng, mình không tập trung mà mình vẫn thấy độ rung của cơ thể, bởi cái kia mình đã tập trung và sau khi nó đã định tĩnh tức là nó đã quán thân quay vô không còn phóng dật, lúc nào nó cũng quán thân nó được thì nó đã định tĩnh trên thân, cho nên kết quả tu tập đến nhanh. Đức Phật nói 7 ngày, 7 tháng, 7 năm. Người nào tập đúng, siêng năng đúng là mau lắm. Cũng như mình tu Nhất Dạ Hiền, mình tu một ngày mà nỗ lực tu như vậy đó, và ngày nào cũng được kết quả như vậy thì 7 ngày không chứng sao được, nó là tinh tấn mà! Phải tinh tấn, siêng năng trên pháp tu, mà phải tu đúng kìa. Tu sai thì làm sao làm được?
Đấy, con cứ tập dần theo đúng như lời Thầy dạy cho đủ 4 oai nghi. Cái nào con cũng quán thân cho đúng nhau thì thời gian con tu sẽ nhanh lắm, các con sẽ có đủ thần lực, không thể nào không đạt, nghĩa là trong tâm nhu nhuyễn dễ sử dụng chứ không thể không. Mà trước khi tâm đạt nhu nhuyễn thì tâm đạt sự định tĩnh, mà tâm định tĩnh thì tâm phải ở đâu? – Nó phải định tĩnh trên thân của nó, mà trên thân thì phải quán thân chứ còn quán gì khác, như vậy là nó hợp với Tứ Niệm Xứ rồi, trên thân quán thân để khắc phục tham ưu thì tham ưu đâu còn trên đó nữa? Nó nhiếp phục rồi thì nó không còn. Cho nên, từ chỗ này suy ra những lời Phật dạy nó hợp nhau ở trên Tứ Niệm Xứ rất cụ thể. Thì bây giờ ngay đây mình phải tập tức là tập quán, mà quán được rồi thì lần lượt nó sẽ đi đến định tĩnh, mà nó định tĩnh thì nó không phóng dật, thì nó phải nhu nhuyễn dễ sử dụng.
Nghe thì thấy như khó tu nhưng mình siêng năng tập, tập đúng thì không khó đâu.
Cái căn bản của con theo Thầy thiết nghĩ như vầy: Tại các con ham chứ các con cứ tu một phút cho nhiếp tâm, cho an trú tâm vào hơi thở hay bước đi kinh hành rồi nghỉ 3, 4 phút cũng được, rồi tu lại một phút khác; chừng nào nhuần nhuyễn để vô một phút là vô ngay, không còn trật vuột, vô thật dễ dàng, tự nhiên, nhanh chóng, đúng ý, nghĩa là cách thức nhiếp trong hơi thở đó là một hơi thở giống nhau, chứ không phải như bây giờ có con một phút thì hơi thở dài, một phút khác thì hơi thở ngắn, cái nào cũng cho là một phút được mà một phút đó thì lúc vầy lúc khác thì không đúng.
Đức Phật đã dạy: “Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tôi biết tôi thở ra dài” hay “Hít vô ngắn tôi biết tôi hít vô ngắn; thở ra ngắn tôi biết tôi thở ra ngắn”, đó là trụ trong hơi thở để an trú trong một phút. Hễ hơi thở dài thì lúc nào cũng dài, mà hơi thở ngắn thì lúc nào cũng ngắn, chứ không thể lúc vầy lúc khác được, không thể lộn xộn được. Người nào hơi thở an trú cũng phải nhất định chỉ có một hơi thở đó thôi, hoặc dài, hoặc ngắn mà thôi; lúc nào cũng là hơi thở đó tôi thở vô tôi nhiếp cho được. Đừng có thay đổi hơi thở đó. Do đó phải chọn lấy một hơi thở cho được cố định, không còn thay đổi nữa, sau đó mới tới đề mục khác. Theo Định Niệm Hơi Thở thì tới “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra”, đó là đề mục để hướng dẫn cho chúng ta đi vào quán Tứ Niệm Xứ.
Vấn đề quan trọng là ở chỗ tu. Tu làm sao để phải nhiếp tâm và an trú tâm cho được hoặc là trong bước đi hoặc là trong hơi thở rồi đi vào cái thân hành niệm mà tu tập. Thân hành niệm, cái niệm chân chánh của thân, mà mình tu tập được nhiếp tâm an trú tâm được thì lần lượt những cái khác mình dễ dàng tu lắm, nhưng nếu mình tham cứ thấy hơi được là mình tăng lên. Không được tăng như vậy. Mình phải tu tập chỉ môt phút thôi trong cái pháp đó một hoặc hai tuần lễ, tu cho nhuần nhuyễn một phút cho đạt được, lúc nào cũng chỉ một phút thôi chứ đừng có thêm, đừng có tăng lên hai ba phút.
Các con có cái sai là cứ thấy nó không niệm, hơi được một hai lần là các con tự tăng lên ba bốn phút liên tục. Trong khi đúng ra phải tu một thời gian cho nó nhuần nhuyễn, thật nhuần nhuyễn. Trong một phút đó mình thấy lúc nào cũng tu là được, nhiếp vô là được không có trật vuột. Và khi tu được một tuần lễ rồi, bất kỳ lúc nào thấy có hơi hôn trầm thì mình ngồi lại hít thở một cái là tỉnh bơ liền tức là mình đã nhiếp được, an trú được rồi, tâm không còn mờ mịt. Nếu mình nhiếp mà không phá được hôn trầm thì mình còn bị mờ. Mình chỉ tu một phút thôi mà một phút nó muốn hôn trầm lừ đừ, muốn buồn ngủ thì mình nhiếp tâm vô, là an trú vô liền bởi vì mình tập nhiếp tâm và an trú. Khi nhiếp tâm và an trú được rồi thì Thầy nói quá hay, nó sẽ phá hôn trầm liền tức khắc.
Khi trên Tứ Niệm Xứ tu tập có căn bản như vậy thì chỉ nhìn thân của nó một cái thì tất cả các ác pháp khác đều bị nhiếp phục hết, nó không còn tới lui được cái tâm của con nữa, cho nên nó sáng như ngọn đèn soi, đó là Chánh Niệm Tĩnh Giác. Nó quá tĩnh rồi, nó không còn mê mờ. Còn mình tu lúc tĩnh lúc mê như các con hiện giờ thì rõ ràng là còn dẫm chân tại chỗ rồi, mình không làm chủ. Tu tập cái pháp mà mình vẫn còn bị các lực của si mê, hay lực của tham, sân, si đều ập vô cho nên mình mới có vọng niệm, tức là mình thiếu tĩnh, bị mờ mịt cho nên mới bị ác pháp xâm chiếm vô được. Còn đằng này mình nhiếp tâm rồi an trú tâm, nó quá tĩnh mới được vậy chứ.
Người ta đâu dạy mình tu nhiều, tu nhiều là tu quá sức, tu không có nổi. Thầy dạy tu một phút thì tập một phút, một phút tập cho thuần thục đi. Đằng này cứ thấy vừa được thì tăng lên. Sức mình đâu phải sức thần mà tăng lên nhiều vậy.
Bây giờ các con phải bỏ thói quen lúc nào cũng muốn tăng giờ tu lên trong khi chưa tu được nhuần nhuyễn. Phải tu căn bản lại, một phút là một phút nhuần nhuyễn, hai phút là hai phút nhuần nhuyễn cho đến mười phút là mười phút nhuần nhuyễn. Bây giờ các con đang bước qua giai đoạn Tứ Niệm Xứ rồi thì các con phải có căn bản chứ không có căn bản thì không được. Mà căn bản thì bây giờ mình nhìn lại mình đang ở trên đề mục thứ ba và đề mục thứ tư của Định Niệm Hơi Thở: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra” tức là quán thân chứ có khác gì. Mà muốn quán được thì mình: “Hít vô tôi biết tôi hít vô; thở ra tôi biết tôi thở ra” một phút nhiếp tâm và an trú tâm cho được. Mà khi đã nhiếp tâm và an trú tâm được thì giống như điều Thầy nói “Đứng ở trên lô cốt mà nhìn xuống”, tức là thấy toàn diện thân và hơi thở của nó chứ, như vậy mình nương vào hơi thở chứ mình đâu trụ nó. Mình an trú trong hơi thở rồi mình bắt đầu quán soi vào trong thân thể mình coi cái thân thể của mình, chứ mình đâu kẹt vào trong hơi thở đâu mà bị ức chế. Con thấy chưa, chỉ một phút được rồi thì chỉ cần soi lại quán thân, chỉ quán thân thôi, thì Thầy thấy sẽ toàn diện có kết quả, mà không bị ức chế chút nào hết.
Thật sự đây là cái lớp đào tạo, các con chỉ cần làm đúng theo sự chỉ dạy thì chắc chắn các con sẽ đạt được kết quả liền, không thể sai trật được vì chương trình của đạo Phật là Đạo Đế, đó là chân lý, không có thể dạy cho người thì được người thì không. Khi người đó chịu siêng năng tinh cần, chịu tu thôi thì người đó phải được. Cho nên, đức Phật mới tuyên bố: “Trên trời dưới trời, con người là duy nhất làm chủ sanh, già, bệnh, chết”. Chỉ có con người mới làm được nhưng phải là người làm đúng, chứ làm sai thì làm sao mà được. Mà làm đúng thì chân lý này dạy thực tế chứ đâu dạy mơ hồ, nó rất rõ ràng. Khi Thầy triển khai rồi thì nó rất rõ, mà Thầy đưa vào đâu thì đức Phật dạy y như vậy.
Con thấy như “Quán thân trên thân để nhiếp phục tham ưu”, cả một câu như vậy mà từ lâu nay họ nghĩ sai chứ Thầy hiểu mình quán thân được thì mình nhiếp phục được tham ưu thì đâu phải là ngồi đó mà quán này kia nữa đâu, chỉ cần quan sát được cái thân của mình là nhiếp phục được tham ưu. Cái đó quá rõ ràng rồi. Mà muốn quán được thân này thì phải ở trên Định Niệm Hơi Thở mà quan sát. Con thấy đúng như vậy không, con thấy đức Phật quá hợp lý phải không, cái pháp này lý lẽ quá chặt chẽ không sai trật, không kẽ hỡ, nó là một hệ thống đi vào thì chúng ta đạt được kết quả của nó một cách cụ thể. Thế mà chúng ta cứ tu từng pháp rời rạc thì thử hỏi lợi ích gì, pháp đó dẫn mình tới đâu. Nó có chân rít để nối liền các pháp lại. Như con thấy Tứ Niệm Xứ nối liền với Thất Giác Chi, Thất Giác Chi nối liền với Tam Minh. Nó nối liền chân rít nhau trong đó, chứ đâu phải nó rời rạc ra.
Cái lý lẽ rõ ràng như vậy đó mà dạy thì các con có cái thói quen cứ tự mình tăng lên tăng lên. Cái này chưa có thuần, một phút chưa nhiếp tâm, chưa an trú được, nó mới được có chút chút thôi thì đã lo tăng lên, nó hỏng chân rồi, nó chưa có nhuần nhuyễn. Tu thì phải nhuần nhuyễn chứ, nó phải nhu nhuyễn mới được chứ, còn đây chưa có được nhuần nhuyễn mà cứ muốn mau cho mau, cứ muốn cho 30 phút, một giờ, hai giờ, ngồi cũng vậy, đi cũng vậy. Không được làm thế! Tu là phải thấy chất lượng của sự nhiếp tâm đó.
Các con phải trở về căn bản lại, môt phút phải là một phút nhiếp tâm và an trú tâm cho được. Đó là căn bản nhất của giai đoạn chúng ta bắt đầu sau này, và đồng thời những Định Vô Lậu cần phải thông suốt “Những gì cần thông suốt phải thông suốt”, chưa thông suốt thì làm sao mà xả. Trong khi mình chỉ có nhiếp tâm và an trú được trong có một phút thôi thì còn biết bao nhiêu cái vọng niệm, cho dù chúng ta ngồi chơi thôi thì vọng niệm cũng đến với chúng ta rồi. Chúng ta không nhiếp, không an trú mà đã có vọng niệm rồi, mà những vọng niệm đó thì chỉ Định Vô Lậu mới quét nó. Trong khi chúng ta cần tập cho an trú để sau đó chúng ta chuyển nó qua trên Tứ Niệm Xứ mà quán, thì lúc bấy giờ tự cái quán đó sẽ nhiếp phục tham ưu. Còn bây giờ chúng ta nhờ Định Vô Lậu, là cái tri kiến của chúng ta để xả tất cả các tham ưu, chứ không thì chúng ta chạy theo dục lạc, phạm giới hết. Cho nên, cái Chánh kiến nhờ cái tri kiến đó mà nó xả tâm chúng ta rất nhiều để tâm chúng ta thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh thì chỗ nhiếp tâm, an trú này mới vững chắc. Hai cái chân rít nó hợp nhau để nó an trú cho được, còn nếu mình không xả tâm thì cái an trú này không được.
Thầy dạy các con xả tâm được thì an trú được, an trú được thì xả tâm được, nó như hai cái chân rít quấn chặt nhau. Mà cái này được thuần thục rồi mình bắt đầu quán thân thì rất tốt. Cho nên, khi nó được rồi thì các con sẽ nhân ra được hơi thở dài hay hơi thở ngắn ở trên chỗ nhiếp tâm an trú tâm quá cụ thể. Bởi vì, trong khi con nhiếp tâm an trú tâm, con thấy rõ hơi thở nào thì con sẽ nhiếp tâm an trú lúc nào cũng được, đó là hơi thở dài hay hơi thở ngắn như thế nào. Khi con nhiếp tâm và an trú được thuần thục thì con nhận ra được hơi thở đó của con liền. Hễ con vô hơi thở đó thì con nhiếp tâm an trú liền. Đó là cách thức con chủ động. Cái hơi thở nó lợi ích rất lớn bởi vì nó là cái đường dây hơi thở để mình nắm vô an trú là vô liền.
Bây giờ con chưa biết cái hơi thở nào sẽ nhiếp tâm và an trú được thì như thế con mất căn bản rồi. Cái đó quá rõ ràng cụ thể, mình không biết cái hơi thở nào mình nhiếp tâm an trú được, cho nên vô đó cứ lát thở dài, lát thở ngắn; lát thở vầy, lát thở khác, đủ các hơi thở hết thì làm sao được, làm sao mà gọi là nhiếp tâm an trú? Mình phải chọn lấy một hơi thở mà khi mình tu tập nhiếp tâm an trú thì thấy hơi thở này vô được mau mắn mà dễ nhiếp tâm an trú trong một phút. Một phút nó có đủ thời gian để chúng ta nhận được cái hơi thở đó, nghĩa là cứ thở hơi thở đó thì bắt đầu nhiếp tâm an trú liền. Như thế hơi thở đó chính là đường dây cho mình vào nhiếp tâm. Cho nên, con chỉ cần nhìn hơi thở và cái thân của con, con quán được liền thì lúc bấy giờ sẽ dễ cho con, còn bây giờ thì con phải tập quán bằng cách này hay cách khác.
Căn bản an trú: Thấy được hơi thở đường dây, biết hơi thở đó dài hoặc là hơi thở đó ngắn như thế nào, hoặc hơi thở đó nhẹ cái tầm vóc ra sao, sau đó bất kỳ lúc nào con vô con cũng thở ngay liền cái hơi thở đó, tập ngay liền cái hơi thở đó. Căn bản một phút nhiếp tâm an trú cho được trong hơi thở này.
Phần dưới đây được trích từ sách “Bậc Tam Minh Dạy Luyện Tâm Tĩnh Giác” liên quan tới đề mục số 3 ĐNHT và tu tập theo ĐNHT khác với tu tập trong Tứ Niệm Xứ, nhưng nếu ai chưa biết cách tu đề mục này theo hơi thở thì những giải thích theo sách này có thể giúp ích cho vị này tu hơi thở.
Trong khi tác ý đề mục thứ ba: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra” thì con nín thở; tác ý xong trong khi hít thở con dùng tâm con quét từ trên đầu xuống tới chân xem có cảm thọ gì. Nếu không có cảm thọ gì thì đó là cảm thọ bất lạc bất khổ, còn nếu có đau nhức chỗ nào thì đó là cảm thọ khổ thì mình cũng chỉ ghi nhận thôi, tức là biết thôi, không làm gì hết, có thế nào mình ghi nhận như vậy, mình chỉ thấy có cảm giác của mình rất rõ ràng. Dường như là khi con tập luyện như vậy con thấy tâm con quét từ trên đầu xuống tới chân theo hơi thở.
Bây giờ mình chỉ ghi nhận thôi, bất kỳ hiện tượng gì, cảm giác gì xẩy ra tại đâu trên thân mình, từ đầu cổ xuống tay chân, thân mình, con chỉ ghi nhận cảm giác đó, dù đó là cảm thọ gì.
Thí dụ bây giờ con nương vào hơi thở hít vô mà cảm giác từ trên đầu xuống tới chân, con cảm như tâm con từ trên quét xuống. Nếu mình không cảm thấy gì hết, mình cũng không cảm nhận gì hết, thì mình ghi nhân không có. Còn khi mình thấy có cảm nhận gì thì mình ghi nhận có; khi không thì mình ghi nhận không. Có lạc hay có khổ hay có không lạc không khổ, đó là con cảm nhận như vậy. Coi như mới đầu tập như vậy. Khi tập đã quen rồi thì con sẽ cảm thấy như có một luồng sóng chạy lên chạy xuống như thế này. Như một làn sóng, ta cảm giác như thế, trở thành một luồng sóng. Nhưng coi chừng không khéo thì nó lại trở thành tưởng.
Thầy nói tương tự như các con lấy mắt nhìn từ trên xuống dưới theo hơi thở vào, rồi ngó từ dưới lên trên theo hơi thở ra. Nhưng nhiều khi mình lại có cảm giác ngược hướng, hít vào thì có cảm giác luồng sóng từ dưới chạy lên trên, thở ra thì cảm giác luồng sóng chạy từ trên xuống. Cảm giác như vậy, như một luồng sóng. Cái tâm mình không bám vào đâu hết mà chỉ biết cái hơi thở vô ra.
Không khéo thì hơi thở trở thành hơi thở tưởng, cho nên từng lúc mình thay đổi cảm giác đó. Thí dụ như sau một lúc tập trung trong người, rồi sau một lúc khác lại nhìn ra ngoài nhưng vẫn nương vào hơi thở. Làm như vậy thì cái tưởng sẽ biến mất.
Mình phải thiện xảo khéo léo để tập luyện. Qua kinh nghiệm của Thầy, Thầy nói để con biết, rồi trong khi tập luyện con thiện xảo theo đặc tướng của con để cảm nhận thân cho rõ ràng, con sẽ cảm nhận thân con rất rõ ràng mà không bị tưởng. Hồi Thầy tập luyện, khi cảm nhận thân theo đề mục này Thầy thấy hơi khó vì lúc đó khi Thầy hít vô thì cảm nhận theo hơi thở thấy như luồng sóng từ dưới này đi lên, rồi từ trên đi xuống theo hơi thở ra, làm như ngồi võng đu đưa nhè nhẹ. Tất cả những gì xẩy ra trên thân, mình thấy biết rất rõ, ghi nhận rất rõ, nhưng không khéo sẽ bị tưởng.
Dùng hơi thở theo đặc tướng của mình. Hơi thở chậm thì mình thấy luồng sóng dễ dàng, còn hơi thở ngắn thì khó hơn vì hơi thở ngắn thì thời gian hít vào và thở ra nhanh, cảm nhận khó. Còn hơi thở chậm chậm từ từ thì cảm giác đó hiện ra rất rõ, nó cũng từ từ chầm chậm. Con thở hít chậm sẽ thấy nó đi từ từ, còn khi con hít thở nhanh thì cảm giác đó nhanh nên con khó cảm nhận.
Đó là lúc đầu mới tập luyện chứ còn tập luyện lâu quen rồi thì dù hơi thở dài hay ngắn cũng ghi nhận các cảm giác dễ dàng thôi.
Đề mục “Cảm giác toàn thân” thì người tập luyện hít vô cảm giác thân của mình. Cái này rất quan trọng mà ít người hiểu đến. Bằng cách nào mà cảm giác toàn thân? Bằng cách tác ý theo từng hơi thở như thế nào để mình cảm nhận toàn thể thân của mình, coi như mình có sự chủ động điều khiển cái thân và cái tâm của mình. Thí dụ, để cảm giác toàn thân của Thầy thì Thầy nhắc thế này: “Cái tâm hãy theo dõi từng hơi thở khắp trong cơ thể nó đi!”. Rồi Thầy hít vô coi thử nó ra sao, hít vô thở ra lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm. Rồi nhắc lại câu tác ý một lần nữa. Đó là cách thức huấn luyện như là huấn luyện voi, như đức Phật đã nói. Nếu mình không nhắc thì có một niệm khác xen vô. Cho nên, “cảm giác toàn thân” không phải là ngồi mà cảm giác suông đâu mà cả vấn đề dùng ý thức của ta điều khiển cả thân và hơi thở. Mình phải dẫn nó, nhiếp phục tâm để lần lần cho nó quen đi, sau đó mình hít vô thở ra thì thấy cảm giác rõ ràng. Khi mình dẫn như vậy thì suốt thời gian có thể tư duy để dẫn nó từng chút từng chút. “À, cái thân và cái hơi thở này phải theo dõi sát nghe!” - “Hít vô” - “Thở ra”, mình cứ nhiếp ghi vào trong đó, mình cứ nói thầm thầm trong đó, nhưng mà cái đó là cái chủ động ý thức của mình để cho cảm giác được cái thân theo hơi thở. Khi tập luyện được như vậy rồi thì rất tuyệt vời là suốt thời gian 30 phút không niệm khởi, tức là nhiếp phục được tâm. Đó là giai đoạn thứ nhất.
Khi nhiếp phục lần thứ hai thì cái ý của mình phải dẫn 10 lần, nhưng sau đó từ từ giảm xuống 9, 8, 7, ... cho đến khi chỉ cần nhắc một lần thôi thì nó đã nhiếp phục được. Khi đã nhiếp phục được như vậy rồi và không còn cần phải dẫn nó nữa thì nó sẽ có mọt trạng thái an tịnh. Nó có trạng thái an nhưng chưa thật sự an đâu, sau đó mới bắt đầu dẫn an vô tức là tập luyện tới đề mục 4.
_______________
Cho nên, khi quán được thì nó nhiếp phục được niệm, không còn một niệm gì hết, bởi vì pháp Tứ Niệm Xứ đặc biệt vô cùng. Mới đầu mình tu Tứ Chánh Cần, ngăn ác diệt ác thì là Định Niệm Hơi Thở, Định Sáng Suốt, Định Chánh Niệm Tĩnh Giác và Định Vô Lậu, bốn pháp đủ trong đó, nên khi tới Tứ Niệm Xứ thì nó đã ly dục ly ác pháp rất nhiều, chỉ còn ác pháp vi tế thôi, vì vậy mà khi trên thân quán thân thì chỉ cần nhìn tổng quát cái thân là đã nhiếp phục hết tất cả mọi cái. Nó quan trọng như vậy, cho nên cần tập quán cho được, bởi nó ở lớp thứ 7 là Chánh Niệm, cho nên tập phải quán cho được, mà nếu quán không được thì coi như không tu Tứ Niệm Xứ được, mà nó phải tu Tứ Niệm Xứ trong 4 oai nghi, bởi Tứ Niệm Xứ phải tu trong 4 oai nghi chứ không thể chỉ tu trong một oai nghi được. Đi, đứng, nằm ngồi đều quán được hết, quán toàn thân.
Cái mà con phải nhận ra cho được, quán cho được thì cái đó rất quan trọng. Cho nên, bây giờ con tập ngồi con cảm giác hết toàn thân của con mà không có bị tưởng, thí dụ mình nương vào hơi thở mà nếu mình thấy hơi thở luồn trong thân của mình thế là không được. Cũng như Thầy nói mình dùng đôi mắt nhìn ngón tay thì mình thấy từ đầu ngón tay tới chân ngón tay. Đó là quán toàn ngón tay của mình. Quán thân cũng vậy, nhưng mình không cúi xuống nhìn thân mình. Quán mà cứ cúi xuống nhìn thân thì không đúng lắm, thật sự ra mình nhìn xuống thì mắt mình thấy cái thân.
Còn khi mình cảm nhận cái thân thì mình thấy cái tâm nó quay vô, có cái dạng tâm quay vô, do đó tâm mình không phóng dật, nó quay vô thì tâm không phóng dật. Nó quay vô quan sát trên thân suốt trong thời gian tu thì nó nhiếp phục được tham ưu. Cho nên, tâm không phóng dật là tâm đã nhiếp phục được tham ưu, vì vậy đức Phật nói: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”. Con thấy câu nói này và khi con quan sát cái thân thì thấy đúng như thế, cái tâm quay vô thật, nó nhìn cái thân của nó, không phải nhìn bằng mắt, nhưng mình ngồi bình thường mà mình cảm nhận cái thân tức là cái ý thức của mình nhận ra toàn diện cái thân của mình. Tương tự với hơi thở, khi đi mình cũng nương vào bước đi để nhận ra cái thân.
Thầy nói nương vào bước đi thì khi mình đi, cái thân của mình có nhiều sự chuyển động theo chuyển động của cái chân nên cảm giác toàn thân rất dễ. Cho nên, khi ta ôm pháp Tứ Niệm Xứ tu 1, 2, 3 giờ liên tục mà không bao giờ có một niệm nào xẩy ra, nó an ổn vô cùng. Khi mình quán được thì nhiếp vào thân rất là nhanh chóng. Nhưng khi quán không được thì nay trật cái này, mai trật cái kia, rồi khổ nổi thay vì mình lấy cái thân hành để quán cái rung động của cái thân, như lời đức Phật dạy: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra”, hoặc là “Cảm giác thân hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác thân hành tôi biết tôi thở ra”, tức là đức Phật đã gợi ý cho mình biết trên thân quán thân, thì mình lại hay chế ra cách này kia.
Như bên nữ, theo các thư gởi cho Thầy, thì họ phần nhiều là tu theo lối Chuyển Pháp Luân của ngoại đạo, cứ dẫn ý chạy lên trên đầu, thở ra; rồi chạy xuống chỗ này chỗ kia, vòng vòng, nhiều khi lại còn tác ý nữa, tác ý theo tưởng luồng hơi đi tới đầu, chân, đầu gối... đặng cho nó nhớ. Cách thức đó là cách thức Chuyển Pháp Luân của ngoại đạo, không phải là pháp của đức Phật. Không được! Tập như vậy đâu đúng. Thầy bảo tập phải cảm nhận cho được cái toàn thân, không phải điểm này, điểm kia, cũng không phải phần này phần khác. Tập được như vậy thì mới tu Tứ Niệm Xứ được, nếu không được thì trở về tu tâm xả.
Tu tâm xả thì ngồi chơi mà có niệm gì, có chướng ngại gì thì mình đuổi như là mình tu Tứ Niệm Xứ trên 4 Chánh Cần cho chắc ăn. Nhưng khi nó yên lặng thì nó quay vô quan sát thân nó. Đầu tiên khi mình ngồi thì nó thấy hơi thở, nhưng đừng có bám vào hơi thở, bám vào là sai. Thấy hơi thở thì mặc nó, chỉ quan sát trên thân mà thôi. Thế thì cũng giống như Tứ Niệm Xứ. Nhưng phải biết cách để đừng bám vào hơi thở, chứ cứ bám vào hơi thở là trật, là bị ức chế. Trong khi được tâm yên lặng thì tâm lại bị ức chế thì lại sai, mà trong khi nó động mà mình lúc nào cũng động để đuổi cái động đó thì cũng sai, không đúng. Đuổi cái động để cho nó đi vào cái tịnh thanh thản, an lạc, vô sự. Nhưng khi nó thanh thản, an lạc, vô sự rồi thì nó ở đâu? – Nó phải ở trên thân nó, giống như trở về Tứ Niệm Xứ, nhưng nếu không biết, thì chúng ta lại ức chế tâm trong hơi thở thì rất là nguy hiểm.
Vậy thì con tu Tứ Niệm Xứ như thế nào trình lại cho Thầy biết, rồi con ngồi, Thầy lắng nghe cách con tu đúng hay không? Bởi vì khi ngồi quán đúng thì nó không niệm, mà quán trật thì có niệm, quán trật mới có niệm. Quán trật là con biết ngay liền.
Thí dụ con ngồi 30 phút thì không niệm, nhưng nếu con ráng hơn nữa thì sức của con sẽ yếu, khi quán yếu thì sẽ có niệm vô. Hoặc là con ngồi 2, 3 tiếng đồng hồ mà con thấy có hôn trầm thùy miên tức là tu quá sức của con nên không thể nào con tránh hôn trầm thùy miên được. Do đó tập quán cũng phải tăng lên dần từ từ. Quán được lâu tới đâu thì phải chủ động tới đó, tức là chủ động nhiếp phục tham ưu tới đó. Cho nên, tu theo 4 oai nghi thì không bao giờ có sự mỏi mệt, không bao giờ có sự tê chân hoặc là chướng ngại nào do cảm thọ khổ, chỉ có cảm thọ lạc thôi, các cảm thọ khổ không có.
Đó, trên Tứ Niệm Xứ là phải tu tập như vậy. Cho nên, khi tu tới đâu thì các con biết tới đó, tu được hay không được là biết liền. Vô Tứ Niệm Xứ quán thân trên thân để nhiếp phục tham ưu, không bao giờ còn tham ưu, mà chỉ có lạc, nhưng chúng ta cũng không chấp nhận cái lạc mà quên cái quán thân, cho nên lúc nào cũng ở trên thân, thân lúc nào cũng hiện tiền. Và nhanh chóng lắm, nó là một pháp duy nhất mà đi đến cứu cánh, chỉ trong 7 ngày, 7 tháng, 7 năm.
Kinh nói 7 năm nhưng thật ra không tới 7 năm đâu. Khi con nhiếp được đúng 7 ngày tâm thanh thản, an lạc vô sự trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi không bị buồn ngủ, luôn luôn tỉnh táo mà thấy an lạc, nằm xuống nó cũng không ngủ đâu, nó rất tỉnh mà tâm lúc nào cũng ở yên trên thân, thấy từ trên đầu tới chân rất rõ, rất tỉnh, mà thấy nhanh chứ không phải thấy từ từ như khi mình đi.
Nó quan sát thân y như một ngọn đèn từ xa rọi chiếu vào thân của nó, thấy rõ ràng toàn thân mà khi định tĩnh càng cao thì nó thấy thân nó càng rõ ràng hơn. Đó là định tĩnh, mà đã được định tĩnh thì tâm nhu nhuyến dễ sử dụng, nghĩa là nó bám chặt trên toàn thân để quán thì đương nhiên là nó được định tĩnh rồi. Cho nên, nó đã định tĩnh thì phải nhu nhuyến dễ sử dụng, chứ không còn khó, vì vậy mà nó có đủ Tứ Thần Túc.
Cho nên, bây giờ mình tập quán, quán được rồi thì mình mới nối tiếp từ oai nghi này tới oai nghi khác. Nối tiếp các oai nghi được trong một giờ, đến hai giờ rồi thì bắt đầu kéo dài, tăng thời gian lên; còn chưa đủ sức nối tiếp các oai nghi như thế mà tăng thời gian lên thì coi chừng.
Con quán thân được trong mỗi oai nghi, nghĩa là con quán thân trong oai nghi ngồi trong thời gian 30 phút được rồi thì con bắt đầu tập quán thân trong oai nghi đi, rồi đứng, rồi nằm cũng được 30 phút hết rồi thì con bắt đầu tu thay đổi từ oai nghi này sang oai nghi khác. Cứ ngồi 5 phút thì con đứng dậy đi 5 phút; đứng lại 5 phút; nằm xuống 5 phút; lúc nào cũng giữ tâm trên thân được như vậy; và cứ tiếp tục như vậy để cho nó quán thân trên thân trong tất cả 4 oai nghi của nó, không nhất thiết theo một thứ tự nằm, ngồi, đi, đứng nào cũng đều quán thân trên thân được không thay đổi, không mất niệm thân. Sau khi quán được đủ cả 4 oai nghi rồi, nối kết được đủ cả 4 oai nghi rồi thì lúc đó mới bắt đầu tăng giờ, chứ chưa nối kết được mà tăng giờ là sai. Không được, nó sẽ lọt vào trong tưởng pháp, nó trật đi. Điều chánh yếu là con phải biết quán và QUÁN THÂN cho được, chứ không thể không quán thân được, phải quán thân cho rõ ràng.
Bây giờ con trình bày cho Thầy cách thức quán như thế nào, như khi con đi thì con cảm nhận toàn thân của con từ trên đầu xuống tới chân như thế nào, thân rung động như thế nào.
Khi con đi muốn cho tâm chỉ biết cái thân rung động thôi thì con để hai tay sau lưng hoặc khoanh tay trước bụng rồi con đi con sẽ thấy sự rung động của nó cụ thể và con chỉ nên tập lâu nhất là nửa giờ thôi, đừng lâu hơn. Khi trong nửa giờ đi đó mà thấy lúc nào cũng quán thân được, tức là đi thấy thân mà không có một niệm nào khác xen vô, nó nhiếp phục tham ưu trên cái thân của nó trong khi đi, nó không bị hôn trầm thùy miên, không phóng niệm, không phóng dật, nó có một trạng thái bất động yên lặng, chỉ cảm nhận rõ ràng sự rung động trên thân thôi thì con đã thành tựu được quán thân trong oai nghi đi.
Khi quán thân trong oai nghi đi đã thành tựu được rồi thì con mới thay đổi qua oai nghi ngồi, rồi đứng, rồi nằm. Và trong cả 4 oai nghi đó đều y trang một cái quán thân như vậy hết thì lúc đó mới bắt đầu tăng giờ lên.
Thầy cho các con tu quán chỉ trong 30 phút thôi, đừng quán quá nhiều lâu. Quán quá lâu trong một tư thế, sau đó các con thay đổi, các con chưa có nắm chặt những cái oai nghi khác thì khi thay đổi lại quán cách khác, nhiều cách quán quá là trật. Phải chọn lấy duy nhất một sự quán cho đúng, chứ không phải khi mình đi thì mình quán như vầy, khi mình ngồi thì mình quán khác thì không được. Phải y chang một cái quán thôi thì nó mới là một pháp độc nhất. Chứ một lát quán cách này, lát quán cách khác thì không được. Thầy nhắc nhở như vậy để biết nhớ và thực hành cho đúng.
Đúng ra thì Thầy phải kiểm tra các con tu, nhưng vì Thầy không có nhiều thì giờ, vì muốn kiểm tra thì Thầy cũng phải mất ít nhất mỗi người một tiếng để tâm Thầy cũng phải yên lặng lắng đọng mới nghe, mới theo dõi từng tâm niệm của mấy con. Thầy bây giờ phải vừa trả lời thơ, vừa trả lời các thắc mắc của các cô, bên nam thì ít chứ bên nữ quá nhiều. Không biết quý thầy tu ra sao, Thầy nghĩ chắc cũng sai chứ không đúng. Nhiếp tâm đâu phải dễ, vì nó nhiếp phục được thì nó phải khắc phục được tham ưu liền. Mình tu mà quán được thân thì nhiếp phục được, quán trật thì nhiếp phục không được, nó có niệm xẹt ra. Mà có niệm khởi là coi chừng quán sai, hoặc là mình tu tập quá sức của mình, mình tu tập chưa được nhuần nhuyễn mà mình muốn dài. Mình thấy được an một chút thì đã lo tăng giờ lên là mình cũng tham rồi, không đúng. Thí dụ Thầy cho 30 phút thì mình cứ tu 30 phút rồi xả nghỉ, rồi chút nữa mình tu tiếp 30 phút khác, coi có giống nhau hay khác nhau, đừng tu 30 phút này mình quán như vầy mà 30 phút sau mình lại quán khác. Mà nếu quán đúng nhau như vậy hết thì Thầy sẽ đặc cách cho lên lớp tu cao hơn.
Cho nên, con trình cho Thầy nghe cách con quán như thế nào rồi Thầy chấp nhận chỗ nào thì con về cứ duy nhất chỗ đó như thế mà tu tập và chỉ tu tập trong 30 phút thôi. Sau khi tu 30 phút đó mà được rồi thì Thầy sẽ chịu khó để ra 30 phút để kiểm tra. Sau khi đã thấy con tu đúng như thế rồi thì Thầy sẽ cho con thay đổi oai nghi. Chứ đừng vội! Nhiều khi tự con thay đổi oai nghi Thầy không nắm vững, không biết con đã nhiếp như thế nào. Thầy cần nắm rõ tâm của con trong khi đi rồi mới chấp nhận cho con thay đổi oai nghi mà tu tập. Bắt đầu con ngồi, Thầy theo dõi tâm của con xem con quán cái thân con có giống y như khi con quán thân con trong khi con đi không? Giống thì Thầy chấp nhận mà không giống thì Thầy không chấp nhận. Có như vậy thì con sẽ nhiếp phục được.
Tu 30 phút thì Thầy tin các con sẽ làm được không có niệm. Quán biết cho rõ cái thân của mình trong 30 phút thì không niệm. Mình không ức chế nó mà mình quán sát thân của mình thôi, quán sát được và quán sát đúng thì tự nó không có niệm khởi ra xen vô. Mình cứ biết rõ từ trên đầu tới chân, từ chân lên trên đầu theo hơi thở đi ra, hơi thở đi vô, mà không phải là Chuyển Pháp Luân.
Hầu hết người ta Chuyển Pháp Luân nhờ nhiếp tâm mà người ta không vọng tưởng nhưng lại sanh ra tưởng, cho nên nó sai. Mình quán như cái đèn pha chiếu soi vào, cái ý thức của mình soi vào nó thấy toàn thân của nó. Mình không thể nào dùng con mắt mà nhìn, cho nên mình dùng cái cảm nhận, mà cảm nhận thì chỉ có sự rung động. Con hiểu chỗ Thầy muốn nói không?
Tuy Thầy nhìn xuống như vầy nhưng Thầy thấy cả từ trên đầu xuống tới chân. Con mắt Thầy nhìn như vầy nhưng không phải Thầy thấy bằng mắt mà cái ý của Thầy thấy xuống tới dưới chân, Thầy thấy tới cái mặt của Thầy nữa. Cái thấy mà Thầy nhìn vầy như cái đèn pha nó soi xuống. Nếu mắt mình cứ nhìn xuống mà nhìn hoài như vầy thì sẽ hư thị lực, mõi mắt, bởi vì mình cứ nhìn chăm chăm vào thân để mình có cái ý thấy liên tục toàn thân của mình, chứ nếu mình nháy mắt thì nó làm mình bị mất đi một khoảng thời gian không thấy thân mình khi nháy mắt. Còn đằng này mình cảm nhận. Cái cảm nhận luôn luôn có, không bị cái gì làm cho sự cảm nhận gián đoạn, trừ khi mình không đạt sự nhiếp tâm và an trú tâm. Cho nên sự cảm nhận sự rung động của thân mình luôn luôn có mặt theo hơi thở. Mình không thở nhưng buộc nó phải có hơi thở. Khi mình đi thì hành tướng đi rất thô, cái rung động nó lớn hơn, dễ nhận ra các rung động đó. Cái quán thân khi đi đã nhận ra được rồi thì sau đó đi tới cái vi tế hơn, đó là cái rung động nhẹ trong khi hít thở lúc mình ngồi sẽ dễ nhận ra. Còn cái quan sát thân khi đi mà chưa nhận được thì Thầy thấy cái quan sát thân khi ngồi với rung động nhẹ thì khó nhận ra, rồi mình sẽ bị tưởng, tưởng luồng đi trong cơ thể của mình chứ mình chưa thấy sự rung động nhẹ của nó. Mình phải kinh nghiệm mọi trường hợp như thế để biết cái khó, cái dễ.
Cho nên, nếu ai mới vô mà muốn ngồi để quán thân trên thân thì người đó dễ sanh tưởng theo những pháp môn của ngoại đạo. Thầy cũng biết khi cho đề tài quán thân trên thân mà ngồi thì sẽ dễ bị tưởng, chỉ có người siêng đi kinh hành thì người đó khó bị tưởng, không bị tưởng, bởi cái thân khi đi nó rung động dễ dàng cảm nhận hơn. Nếu khi đi mà không nhận được cái thân hành thì người ta còn có cách đi chậm và mạnh, để cho cái thân nó động cụ thể hơn, thấy rõ hơn để cảm nhận được cái rung động của toàn thân từ trên đầu cho tới dưới chân; cảm nhận cái độ nghiêng của thân khi chân dở lên, bước chân đưa tới, khi đặt chân xuống, thành ra cái thân của mình cứ bị lúc lắc sàng qua bên phải bên trái qua lại, rồi thân nghiêng tới trước khi đẩy mình đi tới, cái thân của mình khi chân bước tới thì nó được đưa lên cao rồi chuyển xuống thấp theo bước chân. Nói chung toàn thân mình từ trên đầu cổ, xuống tới thân mình tay chân đều có sự chuyển động rung chuyển liên tục trong mỗi bước đi.
Cho nên, nhiếp tâm trong khi đi kinh hành mà chỉ có một cái quán như vậy và chúng ta thuần thục thì nó dễ lắm. Tập một thời gian một tuần lễ thì chúng ta sẽ thuần thục. Sau đó tới khi ngồi thì với hơi thở nhẹ nhàng, mình không tập trung mà mình vẫn thấy độ rung của cơ thể, bởi cái kia mình đã tập trung và sau khi nó đã định tĩnh tức là nó đã quán thân quay vô không còn phóng dật, lúc nào nó cũng quán thân nó được thì nó đã định tĩnh trên thân, cho nên kết quả tu tập đến nhanh. Đức Phật nói 7 ngày, 7 tháng, 7 năm. Người nào tập đúng, siêng năng đúng là mau lắm. Cũng như mình tu Nhất Dạ Hiền, mình tu một ngày mà nỗ lực tu như vậy đó, và ngày nào cũng được kết quả như vậy thì 7 ngày không chứng sao được, nó là tinh tấn mà! Phải tinh tấn, siêng năng trên pháp tu, mà phải tu đúng kìa. Tu sai thì làm sao làm được?
Đấy, con cứ tập dần theo đúng như lời Thầy dạy cho đủ 4 oai nghi. Cái nào con cũng quán thân cho đúng nhau thì thời gian con tu sẽ nhanh lắm, các con sẽ có đủ thần lực, không thể nào không đạt, nghĩa là trong tâm nhu nhuyễn dễ sử dụng chứ không thể không. Mà trước khi tâm đạt nhu nhuyễn thì tâm đạt sự định tĩnh, mà tâm định tĩnh thì tâm phải ở đâu? – Nó phải định tĩnh trên thân của nó, mà trên thân thì phải quán thân chứ còn quán gì khác, như vậy là nó hợp với Tứ Niệm Xứ rồi, trên thân quán thân để khắc phục tham ưu thì tham ưu đâu còn trên đó nữa? Nó nhiếp phục rồi thì nó không còn. Cho nên, từ chỗ này suy ra những lời Phật dạy nó hợp nhau ở trên Tứ Niệm Xứ rất cụ thể. Thì bây giờ ngay đây mình phải tập tức là tập quán, mà quán được rồi thì lần lượt nó sẽ đi đến định tĩnh, mà nó định tĩnh thì nó không phóng dật, thì nó phải nhu nhuyễn dễ sử dụng.
Nghe thì thấy như khó tu nhưng mình siêng năng tập, tập đúng thì không khó đâu.
Cái căn bản của con theo Thầy thiết nghĩ như vầy: Tại các con ham chứ các con cứ tu một phút cho nhiếp tâm, cho an trú tâm vào hơi thở hay bước đi kinh hành rồi nghỉ 3, 4 phút cũng được, rồi tu lại một phút khác; chừng nào nhuần nhuyễn để vô một phút là vô ngay, không còn trật vuột, vô thật dễ dàng, tự nhiên, nhanh chóng, đúng ý, nghĩa là cách thức nhiếp trong hơi thở đó là một hơi thở giống nhau, chứ không phải như bây giờ có con một phút thì hơi thở dài, một phút khác thì hơi thở ngắn, cái nào cũng cho là một phút được mà một phút đó thì lúc vầy lúc khác thì không đúng.
Đức Phật đã dạy: “Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tôi biết tôi thở ra dài” hay “Hít vô ngắn tôi biết tôi hít vô ngắn; thở ra ngắn tôi biết tôi thở ra ngắn”, đó là trụ trong hơi thở để an trú trong một phút. Hễ hơi thở dài thì lúc nào cũng dài, mà hơi thở ngắn thì lúc nào cũng ngắn, chứ không thể lúc vầy lúc khác được, không thể lộn xộn được. Người nào hơi thở an trú cũng phải nhất định chỉ có một hơi thở đó thôi, hoặc dài, hoặc ngắn mà thôi; lúc nào cũng là hơi thở đó tôi thở vô tôi nhiếp cho được. Đừng có thay đổi hơi thở đó. Do đó phải chọn lấy một hơi thở cho được cố định, không còn thay đổi nữa, sau đó mới tới đề mục khác. Theo Định Niệm Hơi Thở thì tới “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra”, đó là đề mục để hướng dẫn cho chúng ta đi vào quán Tứ Niệm Xứ.
Vấn đề quan trọng là ở chỗ tu. Tu làm sao để phải nhiếp tâm và an trú tâm cho được hoặc là trong bước đi hoặc là trong hơi thở rồi đi vào cái thân hành niệm mà tu tập. Thân hành niệm, cái niệm chân chánh của thân, mà mình tu tập được nhiếp tâm an trú tâm được thì lần lượt những cái khác mình dễ dàng tu lắm, nhưng nếu mình tham cứ thấy hơi được là mình tăng lên. Không được tăng như vậy. Mình phải tu tập chỉ môt phút thôi trong cái pháp đó một hoặc hai tuần lễ, tu cho nhuần nhuyễn một phút cho đạt được, lúc nào cũng chỉ một phút thôi chứ đừng có thêm, đừng có tăng lên hai ba phút.
Các con có cái sai là cứ thấy nó không niệm, hơi được một hai lần là các con tự tăng lên ba bốn phút liên tục. Trong khi đúng ra phải tu một thời gian cho nó nhuần nhuyễn, thật nhuần nhuyễn. Trong một phút đó mình thấy lúc nào cũng tu là được, nhiếp vô là được không có trật vuột. Và khi tu được một tuần lễ rồi, bất kỳ lúc nào thấy có hơi hôn trầm thì mình ngồi lại hít thở một cái là tỉnh bơ liền tức là mình đã nhiếp được, an trú được rồi, tâm không còn mờ mịt. Nếu mình nhiếp mà không phá được hôn trầm thì mình còn bị mờ. Mình chỉ tu một phút thôi mà một phút nó muốn hôn trầm lừ đừ, muốn buồn ngủ thì mình nhiếp tâm vô, là an trú vô liền bởi vì mình tập nhiếp tâm và an trú. Khi nhiếp tâm và an trú được rồi thì Thầy nói quá hay, nó sẽ phá hôn trầm liền tức khắc.
Khi trên Tứ Niệm Xứ tu tập có căn bản như vậy thì chỉ nhìn thân của nó một cái thì tất cả các ác pháp khác đều bị nhiếp phục hết, nó không còn tới lui được cái tâm của con nữa, cho nên nó sáng như ngọn đèn soi, đó là Chánh Niệm Tĩnh Giác. Nó quá tĩnh rồi, nó không còn mê mờ. Còn mình tu lúc tĩnh lúc mê như các con hiện giờ thì rõ ràng là còn dẫm chân tại chỗ rồi, mình không làm chủ. Tu tập cái pháp mà mình vẫn còn bị các lực của si mê, hay lực của tham, sân, si đều ập vô cho nên mình mới có vọng niệm, tức là mình thiếu tĩnh, bị mờ mịt cho nên mới bị ác pháp xâm chiếm vô được. Còn đằng này mình nhiếp tâm rồi an trú tâm, nó quá tĩnh mới được vậy chứ.
Người ta đâu dạy mình tu nhiều, tu nhiều là tu quá sức, tu không có nổi. Thầy dạy tu một phút thì tập một phút, một phút tập cho thuần thục đi. Đằng này cứ thấy vừa được thì tăng lên. Sức mình đâu phải sức thần mà tăng lên nhiều vậy.
Bây giờ các con phải bỏ thói quen lúc nào cũng muốn tăng giờ tu lên trong khi chưa tu được nhuần nhuyễn. Phải tu căn bản lại, một phút là một phút nhuần nhuyễn, hai phút là hai phút nhuần nhuyễn cho đến mười phút là mười phút nhuần nhuyễn. Bây giờ các con đang bước qua giai đoạn Tứ Niệm Xứ rồi thì các con phải có căn bản chứ không có căn bản thì không được. Mà căn bản thì bây giờ mình nhìn lại mình đang ở trên đề mục thứ ba và đề mục thứ tư của Định Niệm Hơi Thở: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra” tức là quán thân chứ có khác gì. Mà muốn quán được thì mình: “Hít vô tôi biết tôi hít vô; thở ra tôi biết tôi thở ra” một phút nhiếp tâm và an trú tâm cho được. Mà khi đã nhiếp tâm và an trú tâm được thì giống như điều Thầy nói “Đứng ở trên lô cốt mà nhìn xuống”, tức là thấy toàn diện thân và hơi thở của nó chứ, như vậy mình nương vào hơi thở chứ mình đâu trụ nó. Mình an trú trong hơi thở rồi mình bắt đầu quán soi vào trong thân thể mình coi cái thân thể của mình, chứ mình đâu kẹt vào trong hơi thở đâu mà bị ức chế. Con thấy chưa, chỉ một phút được rồi thì chỉ cần soi lại quán thân, chỉ quán thân thôi, thì Thầy thấy sẽ toàn diện có kết quả, mà không bị ức chế chút nào hết.
Thật sự đây là cái lớp đào tạo, các con chỉ cần làm đúng theo sự chỉ dạy thì chắc chắn các con sẽ đạt được kết quả liền, không thể sai trật được vì chương trình của đạo Phật là Đạo Đế, đó là chân lý, không có thể dạy cho người thì được người thì không. Khi người đó chịu siêng năng tinh cần, chịu tu thôi thì người đó phải được. Cho nên, đức Phật mới tuyên bố: “Trên trời dưới trời, con người là duy nhất làm chủ sanh, già, bệnh, chết”. Chỉ có con người mới làm được nhưng phải là người làm đúng, chứ làm sai thì làm sao mà được. Mà làm đúng thì chân lý này dạy thực tế chứ đâu dạy mơ hồ, nó rất rõ ràng. Khi Thầy triển khai rồi thì nó rất rõ, mà Thầy đưa vào đâu thì đức Phật dạy y như vậy.
Con thấy như “Quán thân trên thân để nhiếp phục tham ưu”, cả một câu như vậy mà từ lâu nay họ nghĩ sai chứ Thầy hiểu mình quán thân được thì mình nhiếp phục được tham ưu thì đâu phải là ngồi đó mà quán này kia nữa đâu, chỉ cần quan sát được cái thân của mình là nhiếp phục được tham ưu. Cái đó quá rõ ràng rồi. Mà muốn quán được thân này thì phải ở trên Định Niệm Hơi Thở mà quan sát. Con thấy đúng như vậy không, con thấy đức Phật quá hợp lý phải không, cái pháp này lý lẽ quá chặt chẽ không sai trật, không kẽ hỡ, nó là một hệ thống đi vào thì chúng ta đạt được kết quả của nó một cách cụ thể. Thế mà chúng ta cứ tu từng pháp rời rạc thì thử hỏi lợi ích gì, pháp đó dẫn mình tới đâu. Nó có chân rít để nối liền các pháp lại. Như con thấy Tứ Niệm Xứ nối liền với Thất Giác Chi, Thất Giác Chi nối liền với Tam Minh. Nó nối liền chân rít nhau trong đó, chứ đâu phải nó rời rạc ra.
Cái lý lẽ rõ ràng như vậy đó mà dạy thì các con có cái thói quen cứ tự mình tăng lên tăng lên. Cái này chưa có thuần, một phút chưa nhiếp tâm, chưa an trú được, nó mới được có chút chút thôi thì đã lo tăng lên, nó hỏng chân rồi, nó chưa có nhuần nhuyễn. Tu thì phải nhuần nhuyễn chứ, nó phải nhu nhuyễn mới được chứ, còn đây chưa có được nhuần nhuyễn mà cứ muốn mau cho mau, cứ muốn cho 30 phút, một giờ, hai giờ, ngồi cũng vậy, đi cũng vậy. Không được làm thế! Tu là phải thấy chất lượng của sự nhiếp tâm đó.
Các con phải trở về căn bản lại, môt phút phải là một phút nhiếp tâm và an trú tâm cho được. Đó là căn bản nhất của giai đoạn chúng ta bắt đầu sau này, và đồng thời những Định Vô Lậu cần phải thông suốt “Những gì cần thông suốt phải thông suốt”, chưa thông suốt thì làm sao mà xả. Trong khi mình chỉ có nhiếp tâm và an trú được trong có một phút thôi thì còn biết bao nhiêu cái vọng niệm, cho dù chúng ta ngồi chơi thôi thì vọng niệm cũng đến với chúng ta rồi. Chúng ta không nhiếp, không an trú mà đã có vọng niệm rồi, mà những vọng niệm đó thì chỉ Định Vô Lậu mới quét nó. Trong khi chúng ta cần tập cho an trú để sau đó chúng ta chuyển nó qua trên Tứ Niệm Xứ mà quán, thì lúc bấy giờ tự cái quán đó sẽ nhiếp phục tham ưu. Còn bây giờ chúng ta nhờ Định Vô Lậu, là cái tri kiến của chúng ta để xả tất cả các tham ưu, chứ không thì chúng ta chạy theo dục lạc, phạm giới hết. Cho nên, cái Chánh kiến nhờ cái tri kiến đó mà nó xả tâm chúng ta rất nhiều để tâm chúng ta thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh thì chỗ nhiếp tâm, an trú này mới vững chắc. Hai cái chân rít nó hợp nhau để nó an trú cho được, còn nếu mình không xả tâm thì cái an trú này không được.
Thầy dạy các con xả tâm được thì an trú được, an trú được thì xả tâm được, nó như hai cái chân rít quấn chặt nhau. Mà cái này được thuần thục rồi mình bắt đầu quán thân thì rất tốt. Cho nên, khi nó được rồi thì các con sẽ nhân ra được hơi thở dài hay hơi thở ngắn ở trên chỗ nhiếp tâm an trú tâm quá cụ thể. Bởi vì, trong khi con nhiếp tâm an trú tâm, con thấy rõ hơi thở nào thì con sẽ nhiếp tâm an trú lúc nào cũng được, đó là hơi thở dài hay hơi thở ngắn như thế nào. Khi con nhiếp tâm và an trú được thuần thục thì con nhận ra được hơi thở đó của con liền. Hễ con vô hơi thở đó thì con nhiếp tâm an trú liền. Đó là cách thức con chủ động. Cái hơi thở nó lợi ích rất lớn bởi vì nó là cái đường dây hơi thở để mình nắm vô an trú là vô liền.
Bây giờ con chưa biết cái hơi thở nào sẽ nhiếp tâm và an trú được thì như thế con mất căn bản rồi. Cái đó quá rõ ràng cụ thể, mình không biết cái hơi thở nào mình nhiếp tâm an trú được, cho nên vô đó cứ lát thở dài, lát thở ngắn; lát thở vầy, lát thở khác, đủ các hơi thở hết thì làm sao được, làm sao mà gọi là nhiếp tâm an trú? Mình phải chọn lấy một hơi thở mà khi mình tu tập nhiếp tâm an trú thì thấy hơi thở này vô được mau mắn mà dễ nhiếp tâm an trú trong một phút. Một phút nó có đủ thời gian để chúng ta nhận được cái hơi thở đó, nghĩa là cứ thở hơi thở đó thì bắt đầu nhiếp tâm an trú liền. Như thế hơi thở đó chính là đường dây cho mình vào nhiếp tâm. Cho nên, con chỉ cần nhìn hơi thở và cái thân của con, con quán được liền thì lúc bấy giờ sẽ dễ cho con, còn bây giờ thì con phải tập quán bằng cách này hay cách khác.
Căn bản an trú: Thấy được hơi thở đường dây, biết hơi thở đó dài hoặc là hơi thở đó ngắn như thế nào, hoặc hơi thở đó nhẹ cái tầm vóc ra sao, sau đó bất kỳ lúc nào con vô con cũng thở ngay liền cái hơi thở đó, tập ngay liền cái hơi thở đó. Căn bản một phút nhiếp tâm an trú cho được trong hơi thở này.
Phần dưới đây được trích từ sách “Bậc Tam Minh Dạy Luyện Tâm Tĩnh Giác” liên quan tới đề mục số 3 ĐNHT và tu tập theo ĐNHT khác với tu tập trong Tứ Niệm Xứ, nhưng nếu ai chưa biết cách tu đề mục này theo hơi thở thì những giải thích theo sách này có thể giúp ích cho vị này tu hơi thở.
Trong khi tác ý đề mục thứ ba: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra” thì con nín thở; tác ý xong trong khi hít thở con dùng tâm con quét từ trên đầu xuống tới chân xem có cảm thọ gì. Nếu không có cảm thọ gì thì đó là cảm thọ bất lạc bất khổ, còn nếu có đau nhức chỗ nào thì đó là cảm thọ khổ thì mình cũng chỉ ghi nhận thôi, tức là biết thôi, không làm gì hết, có thế nào mình ghi nhận như vậy, mình chỉ thấy có cảm giác của mình rất rõ ràng. Dường như là khi con tập luyện như vậy con thấy tâm con quét từ trên đầu xuống tới chân theo hơi thở.
Bây giờ mình chỉ ghi nhận thôi, bất kỳ hiện tượng gì, cảm giác gì xẩy ra tại đâu trên thân mình, từ đầu cổ xuống tay chân, thân mình, con chỉ ghi nhận cảm giác đó, dù đó là cảm thọ gì.
Thí dụ bây giờ con nương vào hơi thở hít vô mà cảm giác từ trên đầu xuống tới chân, con cảm như tâm con từ trên quét xuống. Nếu mình không cảm thấy gì hết, mình cũng không cảm nhận gì hết, thì mình ghi nhân không có. Còn khi mình thấy có cảm nhận gì thì mình ghi nhận có; khi không thì mình ghi nhận không. Có lạc hay có khổ hay có không lạc không khổ, đó là con cảm nhận như vậy. Coi như mới đầu tập như vậy. Khi tập đã quen rồi thì con sẽ cảm thấy như có một luồng sóng chạy lên chạy xuống như thế này. Như một làn sóng, ta cảm giác như thế, trở thành một luồng sóng. Nhưng coi chừng không khéo thì nó lại trở thành tưởng.
Thầy nói tương tự như các con lấy mắt nhìn từ trên xuống dưới theo hơi thở vào, rồi ngó từ dưới lên trên theo hơi thở ra. Nhưng nhiều khi mình lại có cảm giác ngược hướng, hít vào thì có cảm giác luồng sóng từ dưới chạy lên trên, thở ra thì cảm giác luồng sóng chạy từ trên xuống. Cảm giác như vậy, như một luồng sóng. Cái tâm mình không bám vào đâu hết mà chỉ biết cái hơi thở vô ra.
Không khéo thì hơi thở trở thành hơi thở tưởng, cho nên từng lúc mình thay đổi cảm giác đó. Thí dụ như sau một lúc tập trung trong người, rồi sau một lúc khác lại nhìn ra ngoài nhưng vẫn nương vào hơi thở. Làm như vậy thì cái tưởng sẽ biến mất.
Mình phải thiện xảo khéo léo để tập luyện. Qua kinh nghiệm của Thầy, Thầy nói để con biết, rồi trong khi tập luyện con thiện xảo theo đặc tướng của con để cảm nhận thân cho rõ ràng, con sẽ cảm nhận thân con rất rõ ràng mà không bị tưởng. Hồi Thầy tập luyện, khi cảm nhận thân theo đề mục này Thầy thấy hơi khó vì lúc đó khi Thầy hít vô thì cảm nhận theo hơi thở thấy như luồng sóng từ dưới này đi lên, rồi từ trên đi xuống theo hơi thở ra, làm như ngồi võng đu đưa nhè nhẹ. Tất cả những gì xẩy ra trên thân, mình thấy biết rất rõ, ghi nhận rất rõ, nhưng không khéo sẽ bị tưởng.
Dùng hơi thở theo đặc tướng của mình. Hơi thở chậm thì mình thấy luồng sóng dễ dàng, còn hơi thở ngắn thì khó hơn vì hơi thở ngắn thì thời gian hít vào và thở ra nhanh, cảm nhận khó. Còn hơi thở chậm chậm từ từ thì cảm giác đó hiện ra rất rõ, nó cũng từ từ chầm chậm. Con thở hít chậm sẽ thấy nó đi từ từ, còn khi con hít thở nhanh thì cảm giác đó nhanh nên con khó cảm nhận.
Đó là lúc đầu mới tập luyện chứ còn tập luyện lâu quen rồi thì dù hơi thở dài hay ngắn cũng ghi nhận các cảm giác dễ dàng thôi.
Đề mục “Cảm giác toàn thân” thì người tập luyện hít vô cảm giác thân của mình. Cái này rất quan trọng mà ít người hiểu đến. Bằng cách nào mà cảm giác toàn thân? Bằng cách tác ý theo từng hơi thở như thế nào để mình cảm nhận toàn thể thân của mình, coi như mình có sự chủ động điều khiển cái thân và cái tâm của mình. Thí dụ, để cảm giác toàn thân của Thầy thì Thầy nhắc thế này: “Cái tâm hãy theo dõi từng hơi thở khắp trong cơ thể nó đi!”. Rồi Thầy hít vô coi thử nó ra sao, hít vô thở ra lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm. Rồi nhắc lại câu tác ý một lần nữa. Đó là cách thức huấn luyện như là huấn luyện voi, như đức Phật đã nói. Nếu mình không nhắc thì có một niệm khác xen vô. Cho nên, “cảm giác toàn thân” không phải là ngồi mà cảm giác suông đâu mà cả vấn đề dùng ý thức của ta điều khiển cả thân và hơi thở. Mình phải dẫn nó, nhiếp phục tâm để lần lần cho nó quen đi, sau đó mình hít vô thở ra thì thấy cảm giác rõ ràng. Khi mình dẫn như vậy thì suốt thời gian có thể tư duy để dẫn nó từng chút từng chút. “À, cái thân và cái hơi thở này phải theo dõi sát nghe!” - “Hít vô” - “Thở ra”, mình cứ nhiếp ghi vào trong đó, mình cứ nói thầm thầm trong đó, nhưng mà cái đó là cái chủ động ý thức của mình để cho cảm giác được cái thân theo hơi thở. Khi tập luyện được như vậy rồi thì rất tuyệt vời là suốt thời gian 30 phút không niệm khởi, tức là nhiếp phục được tâm. Đó là giai đoạn thứ nhất.
Khi nhiếp phục lần thứ hai thì cái ý của mình phải dẫn 10 lần, nhưng sau đó từ từ giảm xuống 9, 8, 7, ... cho đến khi chỉ cần nhắc một lần thôi thì nó đã nhiếp phục được. Khi đã nhiếp phục được như vậy rồi và không còn cần phải dẫn nó nữa thì nó sẽ có mọt trạng thái an tịnh. Nó có trạng thái an nhưng chưa thật sự an đâu, sau đó mới bắt đầu dẫn an vô tức là tập luyện tới đề mục 4.
_______________
Cuốn cẩm nang này Thầy viết dựa trên sự thưa hỏi của tu sinh tu tập Tức Niệm Xứ trong lớp học Bát Chánh Đạo - Lớp Chánh Kiến, 2005 - 2006 tại Tu viện Chơn Như
Nguồn: www.thuvienthaythonglac.net
Thursday, February 22, 2018
BA GIAI ĐOẠN TU TẬP
Bài pháp này do cư sĩ Tâm Thuận đánh máy lại từ bài giảng BA GIAI ĐOẠN TU TẬP (1) thuộc Album Pháp Trung Thiện Thầy Bảo Nguyên giảng, được đăng tại trang Giọt Nắng Chơn Như.
Để đọc hiểu xin các bạn đọc thêm bài kinh Tiểu Kinh Người Chăn Bò - Trung bộ kinh
và Các Quả Tu Chứng Trong Phật Giáo mà Thầy Thông Lạc giảng tại sách 37 Phẩm Trợ Đạo.
Bài Ba Giai Đoạn Tu Tập (2)
Kính ghi,
TXT
Nói đến đây Thầy nhắc lại pháp tu này của Phật để mình hiểu ra. Phật dạy mình tu tập để diệt trừ phiền não tham, sân, si, mạn, nghi gọi là ngăn ác, diệt ác, ly dục ly bất thiện pháp, diệt ngã xả tâm thì có 3 giai đoạn hành pháp.
Giai đoạn thứ nhất: Tu tập Tầm và Tứ
Giai đoạn thứ hai: Không Tầm có Tứ
Giai đoạn thứ ba: Không Tầm không Tứ gọi là diệt Tầm, diệt Tứ
Giai đoạn thứ nhất:
Chúng ta tu tập Tầm và Tứ nghĩa là tâm thức của mình trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp còn những chướng ngại tham ưu nào thì phải tu tập Tầm và Tứ. Những lậu hoặc, triền cái, kiết sử tham, sân, si, mạn, nghi chưa đoạn trừ thì chúng ta hãy tinh tấn, siêng năng tu tập Tầm và Tứ. Tâm đang còn phiền não thì mình hãy nương vào pháp hành này để tu tập, pháp này gọi là Tứ Chánh Cần. Khi tu tập Tứ Niệm xứ giai đoạn thứ nhất là Tứ Chánh Cần.
Tu tập Tầm và Tứ còn có nghĩa là Như Lý Tác Ý, hoặc còn có nghĩa nữa là Quán và Chỉ. Nói chung danh từ thì khác nhau nhưng ý thì giống nhau.
Ví dụ: như trong thân mình có cảm thọ bệnh khổ thì phải hiểu rằng: “Cảm thọ bệnh khổ này là vô thường, bây giờ nó đau mai mốt nó hết đau”. Khi mình hiểu ra sự thật thọ là vô thường như vậy gọi là Tầm. Và khi mình (tầm được), hiểu được thì mình hướng tâm đến xả nó, không chấp giữ nó thì tâm đó là bất tử, là Niết-bàn. Giai đoạn thứ nhất chúng ta tu tập Tầm và Tứ là như vậy, giai đoạn này quan trọng lắm, vô cùng quan trọng. Chúng ta hết phiền não, hết lậu hoặc triền cái tham, sân, si, mạn, nghi hay không là ở giai đoạn này.
Giai đoạn này chúng ta tu tập bình thường, đừng có ức chế cái gì trên tâm thức. Tâm này có tham biết tâm có tham, sân biết tâm có sân. Tâm mình đang phiền não điều gì mình phải thành thật chánh niệm biết nó, và khi biết nó mình phải quán: “Tham này là khổ, sân này là khổ, nó làm hại mình hại người”. Khi biết như vậy mình xấu hổ nó, sợ hãi nó, hướng tâm đến tác ý dừng nó lại thì nghiệp tham, sân, si này mới muội lược, mới giảm dần và đưa đến đoạn diệt.
Giai đoạn này quan trọng lắm, có điều là chúng ta có kịp chánh niệm hay không. Thông thường chúng ta không kịp chánh niệm nó. Thường chúng ta sống tiếp giao với mọi người, nếu tâm mình chưa có định mà sống tiếp giao với cảnh động là không bao giờ mình kịp chánh niệm được, ngăn và diệt ác pháp được. Đây là sự thật!
Chính vì lý do đó mà đức Phật dạy cho các đệ tử của Ngài tu tập hướng đến ngăn và diệt ác pháp là giai đoạn sống trầm lặng độc cư thì lúc này mình mới phản tỉnh lại chính mình, mình thấy mình rõ lắm. Lúc này mình mới ngăn và diệt những phiền não trong tâm thì dần dần mới có định. Có định rồi, có năng lực định rồi thì khi mình tiếp giao với mọi người mà ác pháp nào tác động là định ngay liền, chánh niệm ngay liền. Như vậy người này còn phóng dật, còn phiền não với ai được không? Không còn nữa!
Thầy thấy mọi người từ nào giờ nghe pháp đã nhiều, nghe hiểu nhưng chưa có hành, chưa có sống độc cư, chưa có sống một mình, chưa có tự kiểm điểm, chưa có như lý tác ý, chưa có tầm tứ nơi mình, chưa có biết xấu hổ, sợ hãi cái tâm phiền não đang xảy ra. Hầu hết là bị triền cái che mờ, không thấy ra những triền cái tham, sân, si thì mình đâu biết mà xấu hổ. Hầu hết mọi người bị cuốn theo dòng thác nghiệp, cuốn theo nhân tình thế thái, thành bại, thiệt hơn mà sinh ra phiền não. Tâm đó là do triền cái ngăn che.
Hiện nay Thầy rất là thương mọi người, vì mọi người nghe pháp mà chưa có hành, đang còn bị triền cái kiết sử nó cuốn đi. Trong kinh Phật gọi là bộc lưu. Bộc lưu là dòng thác, mình đang sống trong dòng thác của nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi. Chính dòng thác nghiệp này nó cuốn mình đi, mình không làm chủ được. Nhiều lúc mình nhận thấy mình sai chứ, nếu còn chánh niệm tỉnh giác mà kịp sửa sai thì nó còn tu tập. Nhưng có người mất không tỉnh giác ra, bị cuốn theo luôn. Khi bị cuốn theo rồi, được Thầy nhắc nhở mới tỉnh ra, Thầy rầy, Thầy la mới tỉnh ra. Nếu không có Thầy rầy, Thầy la là chìm luôn, bị chìm mất luôn.
Tu tập Tầm và Tứ còn có nghĩa là Như Lý Tác Ý, hoặc còn có nghĩa nữa là Quán và Chỉ. Nói chung danh từ thì khác nhau nhưng ý thì giống nhau.
Ví dụ: như trong thân mình có cảm thọ bệnh khổ thì phải hiểu rằng: “Cảm thọ bệnh khổ này là vô thường, bây giờ nó đau mai mốt nó hết đau”. Khi mình hiểu ra sự thật thọ là vô thường như vậy gọi là Tầm. Và khi mình (tầm được), hiểu được thì mình hướng tâm đến xả nó, không chấp giữ nó thì tâm đó là bất tử, là Niết-bàn. Giai đoạn thứ nhất chúng ta tu tập Tầm và Tứ là như vậy, giai đoạn này quan trọng lắm, vô cùng quan trọng. Chúng ta hết phiền não, hết lậu hoặc triền cái tham, sân, si, mạn, nghi hay không là ở giai đoạn này.
Giai đoạn này chúng ta tu tập bình thường, đừng có ức chế cái gì trên tâm thức. Tâm này có tham biết tâm có tham, sân biết tâm có sân. Tâm mình đang phiền não điều gì mình phải thành thật chánh niệm biết nó, và khi biết nó mình phải quán: “Tham này là khổ, sân này là khổ, nó làm hại mình hại người”. Khi biết như vậy mình xấu hổ nó, sợ hãi nó, hướng tâm đến tác ý dừng nó lại thì nghiệp tham, sân, si này mới muội lược, mới giảm dần và đưa đến đoạn diệt.
Giai đoạn này quan trọng lắm, có điều là chúng ta có kịp chánh niệm hay không. Thông thường chúng ta không kịp chánh niệm nó. Thường chúng ta sống tiếp giao với mọi người, nếu tâm mình chưa có định mà sống tiếp giao với cảnh động là không bao giờ mình kịp chánh niệm được, ngăn và diệt ác pháp được. Đây là sự thật!
Chính vì lý do đó mà đức Phật dạy cho các đệ tử của Ngài tu tập hướng đến ngăn và diệt ác pháp là giai đoạn sống trầm lặng độc cư thì lúc này mình mới phản tỉnh lại chính mình, mình thấy mình rõ lắm. Lúc này mình mới ngăn và diệt những phiền não trong tâm thì dần dần mới có định. Có định rồi, có năng lực định rồi thì khi mình tiếp giao với mọi người mà ác pháp nào tác động là định ngay liền, chánh niệm ngay liền. Như vậy người này còn phóng dật, còn phiền não với ai được không? Không còn nữa!
Thầy thấy mọi người từ nào giờ nghe pháp đã nhiều, nghe hiểu nhưng chưa có hành, chưa có sống độc cư, chưa có sống một mình, chưa có tự kiểm điểm, chưa có như lý tác ý, chưa có tầm tứ nơi mình, chưa có biết xấu hổ, sợ hãi cái tâm phiền não đang xảy ra. Hầu hết là bị triền cái che mờ, không thấy ra những triền cái tham, sân, si thì mình đâu biết mà xấu hổ. Hầu hết mọi người bị cuốn theo dòng thác nghiệp, cuốn theo nhân tình thế thái, thành bại, thiệt hơn mà sinh ra phiền não. Tâm đó là do triền cái ngăn che.
Hiện nay Thầy rất là thương mọi người, vì mọi người nghe pháp mà chưa có hành, đang còn bị triền cái kiết sử nó cuốn đi. Trong kinh Phật gọi là bộc lưu. Bộc lưu là dòng thác, mình đang sống trong dòng thác của nghiệp tham, sân, si, mạn, nghi. Chính dòng thác nghiệp này nó cuốn mình đi, mình không làm chủ được. Nhiều lúc mình nhận thấy mình sai chứ, nếu còn chánh niệm tỉnh giác mà kịp sửa sai thì nó còn tu tập. Nhưng có người mất không tỉnh giác ra, bị cuốn theo luôn. Khi bị cuốn theo rồi, được Thầy nhắc nhở mới tỉnh ra, Thầy rầy, Thầy la mới tỉnh ra. Nếu không có Thầy rầy, Thầy la là chìm luôn, bị chìm mất luôn.
Cho nên đức Phật dạy:
“Nếu được bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng.
Đến đây chúng ta mới thấy được lời khiển trách của bậc hiền trí để mình kịp nhìn ra cái sai của mình để tự xấu hổ, biết buông xả thì lúc này mới đnh được, mới giải thoát được, mới dừng lại nghiệp của mình được. Còn bằng không thì sao? Bị cuốn đi nhiều lắm! Chính vì vậy mà Thầy nghĩ rằng trách nhiệm của Thầy còn nặng lắm, Thầy còn khổ với đệ tử nhiều lắm. Không rầy thì sợ đệ tử bị dòng thác của nghiệp cuốn đi, bây giờ bỏ mặc đâu có được, phải rầy la. Mà Thầy thì không muốn rầy la ai hết, rầy la thì người ta khổ, người ta phiền. Thầy cũng trắc ẩn lắm chứ, lòng Thầy đâu muốn để cho người ta khổ, nhưng mà cũng phải rầy, phải la, phải nhắc nhở.
Tự trong lòng Thầy có nhiều cái khó. Ngày xưa phật tử mình làm cha, làm mẹ có cái khó với con cái chỉ một thôi. Với Thầy thì sao? Khó hơn gấp trăm, gấp ngàn lần. Bởi vì tâm Thầy giải thoát, Thầy không nỡ làm ai khổ được. Nói ra, nếu mà người biết tu thì còn đỡ, người không biết tu thì giận Thầy, hờn Thầy thì Thầy đâu có an lòng. Nó khó là như vậy.
Cho nên làm sao chúng ta phải nhận ra được điều này. Giai đoạn thứ nhất mình tu tập Tầm và Tứ, giai đoạn này quan trọng, quyết định cho sự nghiệp tu hành của chúng ta. Giai đoạn này nó quan trọng lắm, chúng ta phải thử thách chiến thắng với mình, Phật gọi là chiến thắng ma quân. Trong hai năm độc cư Thầy vất vả cái này, Thầy hiểu rõ lắm. Hiện nay trong phật tử chúng ta cũng còn tu tập giai đoạn đầu mình chưa có độc cư, ai độc cư rồi mới hiểu.
Sống một mình như Phật là không có làm gì hết, không có điện thoại, không có tiếp giao, không có làm bất cứ cái gì mà chỉ ngồi chơi thôi. Vậy nhưng đâu phải dễ. Sống một mình để phản tỉnh lại chính mình để nhìn nhận từng phút giây hiện tại, các phiền não nào còn tác động thì phải Tầm Tứ, phải xả liền. Việc làm này là một việc làm chiến thắng với giặc sinh tử của mình, không phải đơn giản được. Hiện nay phật tử chúng ta chỉ sống giai đoạn đạo đức nhân bản nhân quả, làm sao mình phải quán triệt, phải thông suốt giai đoạn thứ nhất để khi tiếp giao với mọi người, mình phải tự phản tỉnh lại tất cả những hành vi, suy nghĩ của mình đúng theo lời Phật dạy thì mới biết dừng lại các nghiệp nhân quả. Một khi có chuyện gì xảy ra thì mình phải kịp chánh niệm tỉnh giác, như lý tác ý điều Phật dạy để mình biết dừng lại các nghiệp nó đang cuốn mình đi. Đó là tinh tấn lực. Phần thứ 2 trong Ngũ căn, Ngũ lực đức Phật gọi là Tấn lực.
Đầu tiên là Tín căn và Tín lực. Tín căn là mình giác ngộ được Chánh pháp của Phật, ngay hiện tại này mình biết buông xả hết các hành nhân quả xấu tốt, được thua. Mình không có thiên chấp về cái gì hết, mình có trách nhiệm làm thôi, mình không đòi hỏi cái việc này thành công hoặc sợ thất bại, mình hãy vô ngã cái khái niệm đó đi. Một khi mình hiểu, mình không còn chấp giữa hai khái niệm đó nữa mong thành công hoặc sợ thất bại, mình xả hết không thiên chấp về hai khái niệm đó thì tâm đó là Niết Bàn, tâm đó là Diệt đế. Khi mình hiểu ra như vậy là mình có được Tín căn. Tín căn là mình giác ngộ được pháp Diệt đế, pháp bất tử, pháp không còn sinh tử.
Không sinh tử nghĩa là gì? Được cũng không có mừng, thất bại cũng không có buồn. Đó là không còn sinh tử! Được mà mừng, thất bại mà buồn, tâm đó là còn sinh tử, nó còn đến và đi, nó còn sinh và diệt. Tâm mình nó còn buồn thương, giận ghét trước các nhân tình thế thái, trước các thành bại, nó còn dao động trước các nhân quả này. Tâm đó là còn sinh tử, tâm đó là chưa bất tử được, tâm đó là còn phóng dật. Trong kinh Phật gọi là Phóng dật. Phóng dật là mình bị dao động, xuôi theo các hành nghiệp nhân quả, mình không có bất động nó được, tâm đó là phóng dật. Cho nên mình hiểu được các pháp là vô thường, nhân quả tự sinh tự diệt không có gì là ta, là của ta hết. Dù thành công hay thất bại thì cuối cùng cũng: tất cả đều là vô thường, hoại diệt.
Chỉ cần mình có lòng tin hướng tâm về sự thật các pháp sinh diệt thì ngay đó mọi phiền não được thua, thành công hay thất bại có còn trong tâm ta không? Hết liền! Đó gọi là Tấn lực. Tấn lực là siêng năng ngay hiện tại này lúc nào cũng nhớ lời Phật dạy về pháp bất tử đó, bất cứ mọi nhân quả xấu tốt nào xảy ra mình siêng năng nhớ lời Phật dạy, chánh niệm lời Phật dạy trong tâm. Tâm mình nó vừa giận ai, phiền ai thì tác ý liền: “thôi hỷ xả đi, tha thứ đi” thì nó còn giận không? Hết giận. Đó là Tấn lực. Nếu không có Tấn lực thì chúng ta không thể diệt phiền não được. Cho nên giai đoạn Tứ Chánh Cần, chánh tinh tấn, tinh tấn lực quan trọng lắm. Mình muốn hết phiền não, chấm dứt nhân sinh tử luân hồi là nhờ Tinh tấn lực này. Vì vậy Phật dạy:“Nếu tâm mình còn phiền não tham, sân, si thì gánh nặng thiện pháp phải giữ gìn, chớ từ bỏ gánh nặng thiện pháp”.
Gánh nặng thiện pháp là gì? Là từ, bi, hỷ, xả. Dù người ta có chửi mắng mình, xúc phạm mình đến đâu mình cũng hoan hỷ, hỷ xả. Đó là gánh nặng thiện pháp. Khi mình sống với pháp bất tử này thì không có đổ thừa cho ai hết, là tại người này, tại người kia, nó còn tại là bởi còn than thân trách phận, còn sống trong nghiệp thức. Cho nên Phật nói gánh nặng thiện pháp là như vậy, mình chấp nhận gánh nặng thiện pháp để vượt qua dòng thác nghiệp này. Mình xem Bát Chánh Đạo, các pháp hành trợ đạo của Phật là gánh nặng thiện pháp, nó là con thuyền đưa mình vượt được biển nghiệp sinh tử qua bờ bên kia. Mình phải đối diện mọi sự thật, mọi ác pháp nhân quả đến mà không than phiền bất cứ điều gì, còn than phiền là nó còn chìm xuống.
Đức Phật dạy: “Bước tới thì trôi dạt, đứng lại chìm xuống, chỉ có vượt qua”. Hãy nương vào gánh nặng thiện pháp của Phật để mà vượt qua. Đã vượt qua thì không than phiền, không than phiền bất cứ điều gì. Không than khổ, không than khó khăn, chuyện gì tốt mình cứ làm, làm bằng tâm hỷ xả, vô ngã thì lòng mình không có khổ gì hết. Đức Phật dạy mình hãy giữ gìn gánh nặng thiện pháp để mình chiến thắng giặc sinh tử này. Giai đoạn này là tu tập Tầm và Tứ.
Giai đoạn thứ hai:
Khi mình diệt hết những phiền não tham, sân, si, mạn, nghi trong lòng thì không còn tu tập Tầm nữa. Nghĩa là mình không cần phải tư duy hiểu về vấn đề đó nữa, mà mình chỉ còn Tứ, diệt Tầm mà giữ Tứ.
Ví dụ như trước đây tâm ta một khi nhớ chuyện vui buồn gì trong quá khứ khiến tâm mình dao động thì lúc đó mình Tầm, mình triển khai tri kiến giải thoát để xả những triền cái dao động. Và khi mình xả hết rồi, tâm không còn tham, sân, si, tâm đã bất động rồi thì đến đây mình không còn tu tập Tầm nữa mà chỉ Tứ thôi. Nghĩa là bây giờ cái niệm này tiếp tục khởi ra những chuyện vui buồn gì trong quá khứ nó vẫn còn tác động, nó vẫn còn tái hiện lại các hành nghiệp trước đây của mình. Nhưng khi nó hiện lại những cảnh đó thì trong tâm mình không còn dao động nữa, không còn phiền não nữa. Lúc này mình chỉ nhắc: “Thôi ta biết rồi, ta hiểu rồi”. Đó là Tác ý, là Tứ đó.
Tứ là gì? Là mình dẫn tâm về pháp bất tử, mình hiểu hết mọi sự thật nhân quả rồi: “Nhân quả này vô thường hợp và tan, ta biết rồi, ta hiểu rồi”. Đến đây chỉ dẫn tâm để mình Tứ thôi, không cần phải quán, không cần phải tìm hiểu, phải tư duy về vấn đề gì nữa. Chỉ cần hướng tâm mình nhớ về sự thật những gì mình hiểu, những gì mình tu, đó là Tứ đó.
Phật tử: Thưa Thầy cho con hỏi, như Thầy nói, lúc đấy mình không còn tu tập Tầm nữa, mà chỉ Tứ thôi thì lúc ấy là Tâm mình đã ly dục ly ác pháp rồi hay là nó mới chỉ lắng xuống thôi?
Giai đoạn tu Tứ chỉ khắc phục những chướng ngại nào tác động đến thân của ta. Mặc dù tâm mình không còn phiền não, không còn tham, sân, si, mạn, nghi nhưng mà tất cả ác pháp nó còn tác động đến thân này thì mình chỉ Tứ thôi. Trước đó mình tu tập Tầm và Tứ để diệt trừ những tâm đau khổ, tâm phiền não, tâm buồn phiền, tâm lo lắng. Diệt sạch hết những cái đó là tâm định. Định là nó dừng lại hết, nó ngăn diệt những triền cái tham, sân, si, mạn, nghi, tâm trạo cử, tâm phóng dật, tâm lo lắng nó diệt hết rồi, nó thuộc về phần Tâm. Tầm là thuộc về phần Tâm, nó diệt hết những phiền não trong tâm của ta.
Phần thứ hai là Tứ. Tứ là trên thân này còn cảm thọ tham ưu với thân nhưng tâm mình không còn khổ bởi những cảm thọ này. Như đức Phật khi có những cảm thọ bệnh, vì tâm Ngài không còn phiền não tham, sân, si nên Ngài không phải Tầm, không phải quán để xả nó nữa, mà chỉ Tứ thôi. Lúc này, như Ngài dạy: “Ta chú tâm chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục, kham nhẫn vượt qua nó” thì một lát cảm thọ này nó hết. Đó là Tứ.
Tứ là gì? Là Ngài dẫn tâm đến biết rằng: “Thọ này là vô thường tự sinh tự diệt, mình hãy kham nhẫn”. Ngài dẫn tâm đến sự hiểu biết rồi.
Thầy ví dụ trường hợp này: Như trước đây mình đi học, lúc mới học Toán mình phải tính đúng phép của nó: cộng, trừ, nhân, chia như thế nào, phải làm sao. Khi học nó rành mạch rồi, thông suốt rồi, hiểu rồi thì từ nay mình còn học nữa không? Nhưng bất cứ con số gì được đưa ra là mình tính cộng, trừ, nhân, chia tự nó biết ngay, như 2 x 2 = 4; 2 – 2 = 0 liền. Đó là Tứ.
Tứ là mình dẫn tâm đến kết quả những gì mình đã học rồi, bây giờ mình không học nữa mà mình chỉ dẫn tâm đến cái thành tựu những điều gì mình đã học, mình đã biết. Mình chỉ dẫn tâm đến đó là nó hiểu ngay, khi hiểu là nó xả ngay liền không còn phải bận tâm tính toán tư duy như thế này hay như thế kia nữa, nó không còn phải học nữa. Tu tập Tứ là như vậy.
Giai đoạn chúng ta tu tập Tầm là mình còn học pháp thì phải thân cận bậc thiện hữu tri thức, phải nghe vi diệu pháp, phải tích tập. Khi mình nghe, mình hiểu để có lòng tin. Khi có lòng tin thì mình nương các pháp này để Như Lý Tác Ý mình ngăn, mình diệt các phiền não trong tâm. Giai đoạn Tứ là như vậy, là mình dẫn tâm về sự thật pháp bất tử, cái chân lý Diệt đế đó để tâm mình không còn phiền não, không còn dao động.
Giai đoạn thứ ba:
Tu tập diệt Tầm, diệt Tứ (gọi là không Tầm, không Tứ). Đến đây mới dẫn tâm về pháp bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Phần thứ ba chúng ta mới tu pháp bất động thanh thản an lạc vô sự được. Còn bây giờ mình chưa diệt phiền não tham, sân, si, mạn, nghi mà mình cứ tác ý tâm bất động thanh thản an lạc vô sự là ức chế hết, là tu tập dậm chân tại chỗ, nguy hiểm lắm.
Phần thứ ba Phật dạy diệt Tầm, diệt Tứ còn gọi là không Tầm không Tứ, nghĩa là đến đây mọi phiền não tham, sân, si, mạn, nghi trong lòng chúng ta đã diệt hết rồi thì mình không còn phải quán, phải tác ý gì nữa, không còn Quán và Chỉ mà chỉ còn tâm bất động thôi. Đến đây mình chỉ hướng về bất động, còn gọi là vô tướng tâm giải thoát hoặc bất động tâm định.
Phật tử: Vậy nếu đang tu diệt Tầm, diệt Tứ thì cái đấy là trạng thái không còn Ý thức ạ?
Không còn Ý thức. Cho nên khi mình tu theo pháp Phật thì phải hiểu ra ba giai đoạn này. Nếu trong phật tử ai có tu rồi thì nói ra mình hiểu rõ lắm.
Giai đoạn thứ nhất mình tu tập Tầm và Tứ để hàng ngày mình tự kiểm điểm lại mình, phản tỉnh lại mình, chánh niệm lại mình để xả mọi phiền não tham, sân, si, mạn, nghi để tâm mình thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh không còn tham, sân, si, mạn, nghi thì tâm đó là định.
Khi có định rồi mình mới tu tập Tứ, đến đây mới Tứ được. Khi nào trên thân, trên tâm này nó không còn triền cái, không còn kiết sử nữa thì mình mới dừng Tầm, Tứ. Còn bây giờ chưa hết phiền não, chưa hết trạo cử, còn phóng dật, còn dao động là Tầm Tứ phải còn, gánh nặng thiện pháp phải còn, chớ có từ bỏ gánh nặng thiện pháp. Mình mà từ bỏ gánh nặng thiện pháp là phiền não sẽ lôi mình đi, giận người này, nạt người kia, la người nọ liền, nó kéo mình đi liền đó.
Cho nên giai đoạn thứ nhất nó khó cho chúng ta là như vậy, và khi mình vượt qua cái cửa ải này rồi thì khỏe lắm. Đến đây tâm mình nó định tĩnh, nhu nhuyến dễ sử dụng, vô cùng vi diệu, nó vi diệu lắm. Nghĩa là tâm mình dù bất cứ một ác pháp nào xảy ra nó định ngay liền, khi định là nó Tứ: “À ta hiểu rồi, ta biết rồi” và dừng ngay liền, định tức thời, đó là Chánh Định.
Chánh Định là gì? Là nó sống ngay hiện tại trên tâm mình dù bất cứ một giặc phiền não nào xảy ra là nó định ngay. Khi tâm định thì nó hiểu: “Nhân quả là vô thường, hợp và tan”. Hiểu như vậy nó hướng đến xả ly, tâm đó là bất tử, là Niết-bàn.
Hiện nay mọi người chưa sống trong định, tâm mình còn đang sống ngoài định, chưa có định tĩnh nhu nhuyến dễ sử dụng. Vì vậy mà tâm cứ phiền não, dao động miết. Cho nên một người giải thoát rồi đỡ lắm, tâm định tĩnh nhu nhuyến dễ sử dụng thì khỏe lắm, không ai làm cho mình dao động được vì tất cả những cái gì tác động là nó định ngay liền, chánh niệm liền. Và khi định thì hướng tâm đến xả ly liền, tâm đó là Diệt đế, là Niết-bàn, nó tức thời, nhanh thức thời.
Phật tử: Vậy thì khi nào mình biết mình tu xong, thưa Thầy?
Thì nãy giờ Thầy nói rồi, có ba giai đoạn đó, nó hay lắm, lúc này là nó tự biết. Giống như mình uống nước thì cảm giác của nước thấy liền tức khắc, tự mình biết à. Pháp này đức Phật dạy, mình hành đến đâu, mình giải thoát là mình biết được.
Phật tử: Vậy bây giờ mình tu xong là mình biết mình tu xong ạ?
Biết chứ, lúc này tự mình biết thôi chứ không có ai nhìn mình mà biết, người ta chỉ biết mình tu xong ở chỗ: người ta chửi mình nhưng tâm mình hiền khô, mình không buồn, không giận, không cãi cọ với ai hết thì biết là mình chứng rồi.
Đức Phật dạy muốn biết vị nào tu chứng có ba phần:
Thứ nhất, vị này sống đầy đủ giới hạnh, không còn phiền não tham, sân, si.
Thứ hai, vị này có thánh lý, nghĩa là vị này có được trí tuệ, vị này thông suốt hiểu rõ về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và pháp Bất tử.
Thứ ba, vị này có lòng tin bất động vào Phật, Pháp, Tăng, vị này không còn dao động, không còn sợ hãi điều gì, lòng tin vị này là bất thối chuyển.
Muốn biết vị nào giải thoát hay không là quan sát đời sống vị đó. Vị nào thật sự giải thoát rồi thì không còn hơn thua, không còn đối đãi, không còn phiền não, tâm như cục đất, như vậy là vị này chứng đạo rồi. Bây giờ đi tìm một người như vậy khó lắm. Một khi mình chứng thì tự mình biết thôi, và để biết mình chứng hay chưa thì phải thân cận bậc thiện hữu tri thức sẽ rõ hết; tại vì các ngài hiểu rõ mình lắm, các Ngài giúp cho thì mình nhận thấy: “À, mình chưa có chứng được gì cả”. Trước đây mình từng nói: “À, tôi an lạc lắm, khỏe lắm, không còn gì cả”. Nhưng khi đụng chuyện rồi thì phiền não, phóng dật, trạo cử dao động đùng đùng, lúc này cần gặp bậc thiện hữu tri thức thưa hỏi để Ngài khai thị cho mình.
Người mà còn tham, sân, si, mạn, nghi là tâm của họ không định được. Tâm còn gốc tham, sân, si, mạn, nghi, rồi khi họ sống tiếp giao với mọi người mà gặp cảnh gì bức xúc xảy ra là phiền não ngay liền. Họ đau khổ, sợ hãi, bất an, hơn thua, nói chung là đủ thứ xấu diễn ra trong tâm.
Còn người mà có định thì dù bất cứ chuyện gì xảy ra tâm cũng bất động. Đến đây Phật nói là tâm định tĩnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng, nó nhìn mọi sự thật gì bằng tri kiến giải thoát. Khi tâm hiểu biết bằng tri kiến giải thoát là hướng tâm đến xả ngay liền.
Ví dụ như trong tâm của Thầy bây giờ, mặc dù chuyện này chuyện kia xảy ra, mà khi nó xảy ra như vậy thì trong tâm Thầy hướng đến xả: “Thôi, đó là nhân quả, xấu tốt cũng là vô thường, cái gì vô thường thì tự sinh, tự diệt, đâu có gì đâu”. Ngay đó là tâm Thầy còn lo lắng gì không? Hết ngay liền.
Phật tử: Nhưng con vẫn lo. (Cười!!!)
Phật tử lo là phật tử chịu, ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng. Thầy đâu tu giùm cho ai được.
Phật tử: Như vậy khó khăn nhất là giai đoạn một. Đối với người tu sĩ con thấy cũng khó khăn, chứ chưa nói đến người cư sĩ. Con muốn hỏi những người đã tu tập 1 năm, 3 năm, 5 năm chưa qua được giai đoạn một thì nên thế nào? Lúc đấy có tiếp tục đi nữa hay là có thể chuyển?
Trong bài kinh “Người chăn bò” (đức Phật dạy có 5 hạng tỳ-kheo tu tập) phật tử có nhớ không? Mình dựa theo bài kinh này là biết mình tu giai đoạn nào thôi. Sức mình tu giai đoạn 1 không được thì tu giai đoạn 2, giai đoạn 2 không được thì tu giai đoạn 3, giai đoạn 3 không được thì tu giai đoạn 4, giai đoạn 4 không được thì tu giai đoạn 5. Đức Phật không có ép mình phải tu cao đâu.
Phật tử: Nếu vậy thì cuối cùng đều qua sông được hết ạ?
Đều qua sông hết. Cho nên mọi người có các hành nghiệp nhân quả khác nhau, và sức tu khác nhau, trí tuệ cũng khác nhau và con đường đến Niết-bàn là do Lòng tin mình giác ngộ được pháp Bất tử, Diệt đế, Niết bàn.
Người tu giai đoạn thứ nhất mà chứng rồi thì khỏe lắm, bây giờ bất cứ một nhân quả gì xảy ra tâm của họ đều xem bình thường hết, nó nhẹ nhàng như hư không. Đức Phật nói: “Ta luôn an trú không, nay an trú không nhiều hơn” là như vậy.
Đó là những bậc ở giai đoạn thứ nhất. Còn mình chưa có giai đoạn thứ nhất thì giai đoạn thứ hai, mặc dù nó còn có dao động chút xíu nhưng một phút sau nó tan thì nó cũng là giải thoát rồi. Người tu giai đoạn 3: nó chưa tan liền, có thể là một tiếng, hai tiếng nó mới tan.
Người tu giai đoạn 4: thì chắc tuần, tháng gì đó nó mới hết.
Người tu giai đoạn 5: nó chưa có hết gì hết. Nó còn nguyên luôn, nó chưa tan gì hết, tham, sân, si còn một cục.
Phật tử: Vậy là dòng thời gian cận tử nghiệp tới nó kéo luôn?
Cận tử nghiệp đến thì mình có Lòng Tin, có lòng tin vào pháp Bất tử. Nếu ngay hiện tại này mình biết kham nhẫn, biết nương vào pháp hành trợ đạo của Phật: “Thôi mình hãy hỉ xả nó, hãy kham nhẫn vượt qua nó, mình không nên phiền não nó”, chỉ cần mình tác ý về pháp bất tử đó thì ngay đó cũng vào Niết-bàn, dù mình chưa đoạn trừ tham, sân, si, mạn, nghi, nó chưa có diệt sạch nhưng mà cũng vào Niết-bàn.
Trên tâm này có lý bất tử, lý Diệt đế thì mình hướng tâm về cái lý bất tử đó, bất động đó, hãy kham nhẫn vượt qua thì ngay sát na cận tử nghiệp đó còn không? Diệt liền. Ngay giờ phút hiện tại đó mà mình chánh niệm tỉnh giác, mình dẫn tâm về pháp bất tử đó, dù nhân quả nào đang tác động mình cũng kham nhẫn vượt qua, kham nhẫn những điều khó nhẫn để mình chiến thắng giặc sinh tử đến hơi thở cuối cùng thì ngay đó mình vào Niết-bàn luôn. Nhưng mà phải hộ trì cho chắc, sơ sẩy chút xíu là té liền, rớt xuống liền là chìm luôn đó.
Phật dạy: “Con bò nghé nó cứ nương vào mẹ, bám theo mẹ mà đi qua bờ bên kia”. Nghĩa là mình nương vào pháp bất tử của Phật cho đến hơi thở cuối cùng thì khi thân này hoại diệt mình cũng vào Niết-bàn.
Phật tử: Như vậy là Thầy dạy giai đoạn thứ nhất tu tập Tầm Tứ, giai đoạn hai diệt Tầm giữ Tứ, giai đoạn ba diệt Tầm diệt Tứ. Giai đoạn giữ Tứ con hiểu Tứ là Tác ý. Tác ý ở đây con thấy có hai hướng. Một là tác ý bằng trí tuệ, bằng lời. Hai là tác ý bằng hành động (thân), ví dụ lời tác ý bằng hành động như Trưởng lão dạy: “Nhón gót lên, dơ chân lên, đưa chân tới, hạ chân xuống”. Đây là để ra lệnh cho cái thân. Còn Thầy dạy là tác ý về giác sát, nói là: “Thôi vấn đề này như thế này, như thế kia...”. Hai pháp đó đều tạo năng lực của ý thức thì thực hành hai tác ý song hành nhau hay mình có thể không cần thiết một pháp nào?
Tác ý đó nó kham nhẫn vượt qua cảm thọ nhất thời thôi, ví dụ như Phật nói: khi một cảm thọ đau khốc liệt, chết điếng thì lúc này mình chú ý chú tâm đưa lưỡi lên nóc họng, cắn răng để mình nhiếp phục cảm thọ đau này, để mình chiến thắng vượt qua cảm thọ đau. Phương pháp thân hành niệm ấy của Trưởng lão dạy cũng như thế: Khi mình có cảm thọ đau thì tập trung từng động tác, ý thức từng động tác để mình kham nhẫn đừng để tâm mình dao động phiền não trước cảm thọ. Cuối cùng thân hành niệm này nhằm để chế ngự, nhiếp phục tham ưu của thân thôi. Vì vậy thân hành niệm có mấy phần là:
Thân hành niệm của tâm: là những tâm triền cái tham, sân, si, mạn, nghi, gọi là “Quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu”. Khi mình quán để xả những tham ưu triền cái trong tâm mình đó là thân hành niệm (của tâm).
Còn thân hành hiệm của thân: là cảm thọ, thọ khổ của thân. Khi có thọ khổ của thân thì mình tác ý tâm làm sao được. Phải dùng thân gọi là thân hành niệm của thân. Đến đây Trưởng lão dạy mình dơ chân lên, hạ chân xuống, đặt gót xuống thì mình cứ chú ý chánh niệm trên thân hành để mình không dao động phiền não cảm thọ này mà chế ngự nó. (Dùng thân để chế ngự thân vượt qua cảm thọ này). Thân hành niệm của thân để diệt phiền não trên khổ thọ của thân thì nó cũng tạo ra lực của ý thức, ý thức này hành động trên thân là tạo thành lực hết. Cho nên Phật nói khi có cảm thọ đau chết điếng, khốc liệt mình phải cắn răng kham nhẫn vượt qua nó, đó là một trạng thái thân hành niệm của thân.
Còn thân hành niệm của tâm: “Quán tâm trên tâm để khắc phục tham ưu” để mình xả các triền cái, các kiết sử trong tâm còn gọi là khắc phục tham ưu. “Quán thân trên thân để khắc phục tham ưu” thì trong cái thân này là gì? Là ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó còn chấp thân nào thì mình quán: Thân này là bất tịnh, là bệnh tật, ung nhọt, là vô thường vô ngã; mình cứ quán nó để tâm mình không phiền não, đó là quán thân trên thân để khắc phục tham ưu. Và khi mình đã thanh tịnh rồi, thì lúc này các phiền não không còn nữa, đến đây mình không quán gì nữa. Không còn Tầm và Tứ luôn mà chỉ dẫn tâm đến pháp bất động, thanh thản, an lạc, vô sự. Tu tập giai đoạn ba chúng ta mới tu pháp bất động thanh thản an lạc vô sự được. Còn bây giờ mình chưa diệt phiền não tham, sân, si, mạn, nghi mà mình tác ý: tâm bất động thanh thản an lạc vô sự là ức chế hết, tu như vậy sẽ dậm chân tại chỗ, nguy hiểm lắm. Giai đoạn ba này Phật dạy là không Tầm không Tứ. Nghĩa là đến đây mọi phiền não tham, sân, si, mạn, nghi trong lòng chúng ta đã diệt sạch rồi thì mình không còn quán và chỉ, không như lý tác ý gì nữa, mà chỉ còn tâm bất động thôi. Lúc này mình chỉ hướng về tâm bất động (hay bất động tâm định).
Bài Ba Giai Đoạn Tu Tập (2)
SỐNG KHÔNG PHẠM HẠNH
Câu hỏi của Chơn Thành
Hỏi: Kính
thưa Thầy! Con xin Thầy dạy bảo, người đã tu xong mà sống phóng dật tâm
buông lung, không giữ gìn phạm hạnh, không giữ gìn giới luật trọn vẹn, liệu những
điều chứng đắc có còn giữ được không?
Đáp:
Không, người tu xong đã chứng đắc thì không thể nào sống buông thả phóng dật
theo tâm ham muốn, Phạm hạnh không có và giới luật không nghiêm chỉnh. Chẳng hề
có một người tu đã chứng đạo nào, mà lại sống trái đạo bao giờ.
Chỉ
có những người tu chưa xong, tâm còn phóng dật buông lung, nên không giữ gìn Phạm
hạnh và giới luật được, những người này tu hành chưa chứng đắc gì cả, họ chỉ là
những người lừa đảo người khác mà thôi. Kinh Phật dạy: Đó là những người “Đại
vọng ngữ, Tăng thượng mạn”.
Những
người tu chưa chứng đắc, cuộc sống thường phạm giới, Phạm hạnh không có, thường
sống buông lung phóng dật, chạy theo danh lợi thế gian, chỉ mượn chiếc áo cà sa
của đạo Phật để tạo cuộc đời mà thôi, thường dùng những danh từ của các Tổ “Tự
tại vô ngại” để che đậy. Họ lừa đảo bằng những sự vay mượn kiến giải
kinh nghiệm của người khác rồi cho đó là của mình.
Những
người này là những con sâu làm rầu nồi canh, là những con bọ chét trong lông sư
tử, là Ma Ba Tuần, là quỷ La Sát thể hiện làm suy tàn Phật giáo. Chúng đã đưa
ra nhiều thuyết để diệt Phật giáo: nào là ngày tận thế sắp đến năm 2000 ; nào
là Đức Phật Di Lặc ra đời; nào là Hội Long Hoa; nào là Đức Phật Thích Ca hết
nhiệm kỳ v.v..
Đó
là những điều lừa đảo, lường gạt người khác, khiến cho mọi người khiếp đảm và sợ
hãi, không còn muốn làm việc. Bởi, bọn Ma Vương lộng hành, khi đạo Phật không
có người tu chứng, chúng muốn nói như thế nào tùy ý, chẳng sợ ai biết được và
có biết cũng chẳng có ai dám vạch mặt, vạch tên chúng, nên chúng tự do muốn nói
Đông, nói Tây, nói sai, nói đúng chẳng ai dám cãi, dám bàn, dám phê bình v.v..
Để
chứng minh cho quý vị thấy, một trong những nhà học giả tu hành chưa đến nơi đến
chốn, như ở Miến Điện (Malaysia) và Thái Lan, họ đã dám cả gan đem kinh nghiệm
tu chưa đến đâu, và sự tu hành đó chưa đúng như lời Phật đã dạy trong các kinh
Nguyên Thủy, thế mà họ đã dám dạy cho người khác, thật là một tai hại rất lớn
cho những tín đồ Phật giáo đang hướng về Phật pháp với một niềm tin sâu sắc
không lay chuyển. Với sự tu hành đó, do đã lạc vào pháp tưởng, tưởng giải, họ
đã dám truyền sang qua Tây Úc và các nước Tây Phương, ngay cả nước Việt Nam những
bài kinh đó cũng được dịch sang Việt ngữ đã được đăng trên nguyệt san báo Giác
Ngộ số 23 tháng 2 năm 1998 đề tựa “Samadhi, Quán Niệm Hơi Thở”.
Bốn
Thánh Định của đạo Phật, khi chưa biết cách tu, chưa biết cách nhập và chưa nhập
được, thì đừng nên tưởng giải ra theo kiểu tu thiền hơi thở ức chế tâm như các
Tổ đã dạy, mà dạy người tu nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền như
trong bài báo này, thì đừng mong có kết quả giải thoát, chỉ phí công tu vô ích,
như đức Phật đã dạy: “Nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ để mà biết phi tưởng
phi phi tưởng xứ, chứ chẳng có ích lợi gì”.
Biết
bao nhiêu người đang tu theo đạo Phật, khi đọc bài này, họ làm sao biết được lời
dạy trong đây đúng hay sai? Họ cứ tin tưởng vào các ông học giả này là hành giả
đã tu chứng, nhập được Bốn Thánh Định. Nếu không có ai nhập được Bốn Thánh Định
thì các ông này lừa đảo, nói dối, gạt người thì còn ai biết được để đính chính
sự tu hành của các ông?
Vì
không có ai tu chứng Bốn loại Thánh Định này, nên các ông dễ lừa đảo người
khác, bằng chứng, báo Nguyệt San Giác Ngộ đã có những cây bút giáo pháp tên tuổi
của các bậc tôn túc Hòa Thượng, Thượng Tọa Phật Giáo Việt Nam, mà bài này vẫn
qua mặt được các Ngài và đã được phép đăng trên báo, thì đủ biết Tứ Thánh Định
này chưa có ai tu chứng cả.
Như
chúng tôi thường nhắc nhở quý vị, thiền định của đạo Phật không giống bất cứ một
loại thiền định nào của các tôn giáo trên hành tinh này. Nó không phải ngồi ức
chế tâm bằng hơi thở hoặc bằng bất cứ một đề mục thiền nào, mà nó chỉ có mục
đích phải xả tâm bằng cách sống đúng giới hạnh, không phạm phải một giới luật
nhỏ nhặt nào, luôn luôn sống đúng Phạm hạnh của một vị Thánh Tăng, thì mới gọi
là xả tâm.
Khi
tâm giữ gìn giới luật trọn vẹn, sống đúng Phạm hạnh, đầy đủ đức hạnh nhân bản
nhân quả, thì giới luật mới thanh tịnh; giới luật có thanh tịnh thì tâm mới
thanh tịnh; tâm mới thanh tịnh thì tâm mới ly dục ly ác pháp; tâm có ly dục ly
ác pháp thì tâm mới nhập Bất Động Tâm Định. Nhập Bất Động Tâm Định thì tâm mới
có Tứ Thần Túc, nhờ có Tứ Thần Túc thì tâm mới nhập được Sơ Thiền, đó là Thiền
Thứ Nhất mà trong kinh sách Phật đều dạy như vậy. Thế mà các nhà học giả lại dạy
theo các Tổ Sư Thiền Đông Độ và Thiền Đại Thừa theo pháp môn Sổ Tức Quán và Tùy
Tức để tìm định tướng của định, rồi tự đặt cho nó là Sơ định.
Nếu
xét cho cùng thì hai lối dạy tu Bốn Thánh Định của đức Phật và nhà học giả Nam
Tông, cách xa một trời một vực, không có chút nào giống nhau cả. Thế mà các nhà
học giả này dạy nhập bốn Thánh Định như trong bài báo, thì xem các bậc tôn túc
Hòa Thượng, Thượng Tọa khắp trên thế giới này toàn là những hạng người Phật tử
vô minh, u tối chẳng hiểu một chút gì về Bốn Thánh Định của đạo Phật cả, trong
khi kinh sách Phật còn ghi lại rõ ràng.
Đây
là một đoạn kinh, trong kinh Trung Bộ, bài kinh “Ước Nguyện” đã
xác chứng lời đức Phật dạy rất hùng hồn về cách thức nhập Bốn Thánh Định, như
chúng tôi đã nói ở trên: “Này các Tỳ Kheo, nếu Tỳ Kheo có ước nguyện mong
rằng, tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức,
Ta chứng Bốn Thiền thuộc Tăng Thượng Tâm, hiện tại lạc trú”, Tỳ
Kheo ấy phải thành tựu viên mãn Giới Luật”.
Vậy
thành tựu viên mãn giới luật như thế nào? Chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Các
Tỳ Kheo, hãy sống đầy đủ giới hạnh, sống đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ với sự
phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các
lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và học tập các học giới”.
Đức
Phật còn nhắc nhở chúng ta phải thực hiện “Định Tư Cụ” tức là thực
hiện ba loại định: Chánh Niệm Tĩnh Giác Định, Định Niệm Hơi thở và Định Vô Lậu.
“Tỳ Kheo ấy phải kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn thiền định,
thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trụ xứ không tịch”. Những danh
từ này do các nhà học giả dịch không có kinh nghiệm tu hành, nên khiến cho người
nghiên cứu rất dễ hiểu lầm, như những danh từ “tịch tĩnh”, “thiền định”,
“quán hạnh”, “trụ xứ không tịch”.
Sau
khi nhập xong bốn thiền chúng tôi mới hiểu được những danh từ này. Khi người mới
bắt đầu tu, tâm làm sao “tịch tĩnh” được, cho nên tịch tĩnh ở đây
phải hiểu là tĩnh giác chứ không phải là lặng lẽ, tịch chiếu. Thường đức Phật dạy
tu tập tĩnh giác theo hành động của thân nội hoặc ngoại để xả niệm ác hay nói
cách khác là để giữ tâm trong chánh niệm, nên có tên gọi loại định này là “Chánh
Niệm Tĩnh Giác Định”.
Vì
thế, đức Phật dạy phải kiên trì nội tâm tịch tĩnh, tức là phải kiên trì tu tập
Chánh Niệm Tĩnh Giác Định, tu trong mọi hành động, tức là thân hành niệm, chứ
không phải giữ tâm tịch tĩnh, khi tâm chưa có định thì làm sao giữ tâm tịch
tĩnh được. Nếu tâm chưa có định mà giữ tâm tịch tĩnh tức là ức chế tâm, ức chế
tâm tức là tu sai thiền của đạo Phật, thì dù có tu cho đến ngàn muôn kiếp cũng
chẳng đi đến đâu, chẳng ích lợi gì cho mình và người khác.
Phật
dạy: “Không gián đoạn thiền định”, khi người mới bắt
đầu tu để nhập Sơ Thiền thì làm gì có thiền định mà không gián đoạn, nếu không
có tu nhập được Bốn Thánh định này, trên những danh từ này mà hiểu thì không ai
hiểu nổi và cũng không biết làm sao tu tập cách nào. Phần nhiều các nhà học giả
rối đầu không dám giải thích những danh từ này, thường là tránh né hoặc giải
thích không đúng, hoặc mượn ý nghĩa theo kinh Đại Thừa và Thiền Đông Độ mà giảng
giải. Do đó thiền của Phật biến thành thiền của ngoại đạo, vì thế chẳng có ai
tu chứng đạt chân lí làm chủ sanh tử, chấm dứt luân hồi.
Không
gián đoạn thiền định, tức là đức Phật muốn nhắc chúng ta tu Định Niệm Hơi Thở,
tức là nương hơi thở xả tâm không gián đoạn: “Quán ly tham tôi biết tôi
hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”.. .. .. “Quán ly sân tôi biết tôi hít
vô, quán ly sân tôi biết tôi biết tôi thở ra”.. .. .. “Quán thân vô thường tôi
biết tôi hít vô, quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra v.v..”.
Đức
Phật dạy: “Thành tựu quán hạnh”. Muốn nhập Sơ Thiền thì phải
thành tựu quán hạnh, tức là phải tu tập Định Vô Lậu, đó là một pháp môn diệt
pháp ác tuyệt vời, mà thành tựu Định Vô Lậu, tức là đã lìa ác pháp đã lìa ác
pháp là nhập Sơ Thiền.
Muốn
nhập Sơ Thiền, Đức Phật dạy: “Thích sống tại các trụ xứ không tịch”,
thích sống tại các trụ xứ không tịch, tức là sống độc cư hay nói cách khác là tịnh
chỉ ngôn ngữ để nhập Sơ Thiền.
Ở
đây, chúng ta phải thấy đường lối tu tập thiền định của đạo Phật rất rõ ràng. Ý
chung của các bài kinh mà đức Phật đã dạy rất cụ thể: “Muốn nhập được Sơ
Thiền phải sống cho đúng giới hạnh và còn tu tập bao nhiêu pháp môn khác nữa mới
nhập được”, chứ không phải như các nhà sư Nam Tông đã tu và dạy
người tu pháp môn hơi thở “sổ tức, tùy tức” để nhập Sơ Thiền, thì
không đúng cách theo đường lối tu tập của đức Phật đã dạy trong các kinh Nguyên
Thủy. Ngay cả pháp môn hơi thở, các sư cũng còn dạy không đúng như trong kinh,
thì dạy nhập các định làm sao đúng được.
Xin
quý vị đọc lại những đoạn văn mà các nhà sư Nam Tông dạy nhập bốn thiền trong
nguyẹt san báo Giác Ngộ: Bài này được trích dịch từ một quyển cẩm nang tu thiền
của Ngài Thiền sư U Acinna, người Miến Điện. (“Light of Wisdom”), W.A.V.E.
Malaysia, 1996, cùng với một vài kinh nghiệm của người dịch, đã có duyên may được
tu học với sư cô Dipanka- ra, đệ tử của Ngài U Acinna, trong năm 1997 tại
Perth, Tây Úc.
Đây
là nhà học giả Miến Điện dạy chúng ta nhập Bốn Thánh Định: “Bây giờ ta
đem tâm vào hơi thở, hơi thở vào và hơi thở ra. Nếu thiền sinh không thể chú
tâm vào hơi thở sau vài buổi thiền, thì có thể tập đếm hơi thở. Việc này để
giúp họ phát triển định lực. Thiền sinh đếm số sau mỗi hơi thở như sau: “thở
vào.. .. thở ra .. .. một”, “thở vào.. ..thở ra .. .. hai”, “thở vào .. ..thở
ra .. .. ba”, .. ..cho đến thở vào .. .. thở ra .. .. tám”. Có thể đếm từ năm đến
mười rồi trở lại số một. Tuy nhiên thiền sinh nên đếm số tám rồi trở lại từ đầu.
Số tám là để nhắc nhở chúng ta về con đường Tám Chánh (Bát Chánh Đạo),
mà chúng ta đang cố gắng để hành trì giác ngộ”. Lời dạy trên đây xin
quý vị lưu ý trong kinh điển Nguyên Thủy, đức Phật có dạy như vậy hay không?
Những
lời dạy trên đây là lời dạy của các Tổ Sư thiền Đông Độ và kinh sách Đại Thừa
(Sổ tức Quán). Còn Định Niệm Hơi thở Phật dạy khác: “Hít vô tôi biết tôi
hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”, hoặc “Quán ly tham tôi biết
tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Phật dạy nương hơi thở để
tâm tĩnh giác xả tâm tham, sân, si, mạn, nghi đó là “Quán Ly tham”, Lìa tâm
tham để tâm được thanh tịnh, tức là định của đạo Phật. Xin quý vị nên hiểu chữ “định”
của Sơ Thiền ở đây, mặc dù chúng tôi cố gắng so sánh định của Phật, định của Tổ
Sư Thiền Đông Độ và định của các nhà sư Nam Tông để quý vị rõ hơn, vì dùng danh
từ “Định” rất dễ hiểu lầm nghĩa.
Đạo
Phật dùng chữ “định”, để chỉ cho tâm “vô lậu”,
tâm vô lậu là tâm đoạn diệt ngũ triền cái và thất kiết sử, cho nên đức Phật đặt
rất nhiều tên pháp môn của mình có mang tên định như: Định Niệm Hơi thở, Định
Chánh Niệm Tĩnh Giác, Định Vô Lậu, Định Vô Tướng Tâm, Định Bất Động Tâm v.v..
Các loại định này đều nhắm vào sự xả tâm ly dục ly ác pháp, chứ không phải ngồi
tĩnh lặng như con cóc, để rồi sanh ra các trạng thái dục tưởng lầm chấp cho đó
là định sanh hỷ lạc, như Thiền Đông Độ và thiền của các nhà sư Nam Tông.
Cho
nên, chữ “định” của Phật ở đây có nghĩa là tĩnh thức xả tâm dục
và ác pháp, tĩnh thức tâm không phóng dật; tĩnh thức tâm thanh thản; tĩnh thức
tâm bất động trước các pháp và thọ; tĩnh thức thân tâm tịnh chỉ các hành; tĩnh
thức tâm Tứ Như Ý Túc và tĩnh thức tâm trong Tam Minh.
Bây
giờ quý vị nghe nhà học giả Nam Tông dạy tiếp cách thức ức chế tâm: “Các
bạn cần phải cương quyết không để phóng tâm, tâm lang thang chỗ này chỗ kia
trong khi đếm hơi thở. Chỉ chú tâm theo dõi hơi thở và đếm số, từ 1 đến 8 rồi
trở lại 1.. .. Qua việc chỉ chú tâm như thế, tâm sẽ trở nên an định hơn.
Thông thường thì cần phải thực hành như thế trong một giờ để tâm được an định
và vững chắc”. Qua lời dạy trên đây, quý vị thấy rất rõ, đó là lối hướng
dẫn thiền ức chế tâm, không phải là thiền xả tâm ngũ triền cái: tham, sân, si,
mạn, nghi như đức Phật đã dạy trong kinh.
Thiền
của Phật, nếu quý vị lưu ý thì sẽ thấy rất rõ, lúc nào cũng tĩnh thức trong mọi
hành động thân nội hay ngoại đều phải kèm theo pháp hướng tâm (Như lý tác ý) “Quán
ly tham, quán ly sân, quán ly si, quán thân vô thường, quán thân vô ngã, quán
tâm như đất v.v..”.
Trong
kinh sách Phật không có dạy định tướng mà chỉ có nói đến: “Do ly dục sanh
hỷ lạc hoặc định sanh hỷ lạc”. Ở đây nhà học giả dạy: “Đến
đây tùy theo giới hạnh của từng cá nhân, định tướng sẽ hiện ra. Mỗi cá
nhân khác nhau sẽ có định tướng khác nhau. Dù đang nhắm mắt theo dõi hơi thở, dần
dần thiền sinh sẽ thấy định tướng hiện ra, có khi như một làn chỉ trắng, một luồng
ánh sáng trắng, một ngôi sao, một cụm mây hoặc một nhúm bông gòn. Nó có thể rất
to, trùm cả khuôn mặt, hoặc như mặt trăng, mặt trời, hoặc một viên ngọc thạch,
một viên ngọc trai. Nó hiện ra trong các hình sắc khác nhau là vì do tưởng uẩn
(sana, perception) tạo ra”.
“Lúc
ban đầu, định tướng có thể giống như có màu khói xám. Dần dần, nếu giữ tâm được
an định vào hơi thở, hơi thở và màu khói xám trở thành đồng nhất với nhau,
không khác biệt. Sau đó nếu tâm được an nhẹ và chỉ chú mục vào hơi thở, màu sắc
đó trở thành trắng đục. Mặc dù là màu trắng, nhưng nếu bạn chỉ chú mục, hơi thở
sẽ trở thành định tướng và định tướng chính là hơi thở. Nếu định tướng và hơi
thở là một, không khác biệt, khi bạn chú mục vào hơi thở, thì bạn cũng chú mục
vào định tướng, và khi bạn chú mục vào định tướng thì bạn cũng chú mục vào hơi
thở. Và như thế bạn hành thiền tốt và nghiêm túc.. .. .. Khi định tướng có màu
khói xám thì đó là sơ tướng (parikamma nimitta) trong trạng thái sơ định
(parikamma samadhi). Nếu nó trở thành màu trắng như một nhúm bông gòn, đó là học
tướng (uggaha nimitta). Đây là một trạng thái định khá cao...”.
Đọc
qua cách thức hướng dẫn này, chúng ta nhận xét: nhà học giả ở đây có nhận thức
ra “Giới hạnh” sanh định tướng, đó là đúng, nhưng nhà học giả lại
chẳng biết định tướng của giới hạnh như thế nào? Cho nên, nhằm tưởng định tướng
do tưởng uẩn lưu xuất, điều này rất sai. Định tướng do giới hạnh sanh ra là một
trạng thái tâm không phóng dật, tâm thường tự động hướng vào nội thân, trong nội
thân hoạt động điều gì thì tâm đều biết rất rõ mà chẳng biết sự động dụng bên
ngoài, nó không hình tướng như màu khói trắng hoặc xám hoặc trắng như nhúm bông
gòn hoặc như ngọc thạch v.v.. Còn định tướng của tưởng uẩn lưu xuất là những định
tướng loại ma có hình tướng màu sắc khói xám hoặc trắng v.v.. do tu tập thiền ức
chế tâm sanh ra. Nhà học giả này chỉ mới thấy được sắc tưởng của thiền ức chế
tâm mà đã vội cho là định tướng của Bốn Thiền thì thật là vô minh vô cùng. Nó
có sáu loại ma tưởng: Sắc tưởng, hương tưởng, thinh tưởng, vị tưởng, xúc tưởng
và pháp tưởng. Vị Sư Nam Tông đã rơi vào ma sắc tưởng mà không biết.
Thảo
nào, chúng ta cũng không nên trách các thiền sư Đông Độ, khi họ tu hành ức chế
tâm “chẳng niệm thiện niệm ác”, nên gặp loại ma pháp tưởng,
do đó họ tưởng họ đã tu chứng đạo, nên trí tuệ phát triển, “triệt ngộ”
thấu suốt 1.700 công án thiền tông và tất cả kinh sách Đại Thừa đều hiểu rõ
không có câu kinh nào mà họ chẳng hiểu. Nhưng không ngờ, đó lại là ma Pháp tưởng
của tưởng uẩn, chứ không phải trí tuệ. Nhìn giới hạnh của các Ngài thì biết các
Ngài đã bị ma Pháp tưởng không có khó khăn gì, vì các Ngài đang sống phạm giới
luật.
Dường
như tu sĩ từ đông, sang tây, từ nam, sang bắc tu hành đều gặp nhau trên một điểm
này, điểm này tức là sáu loại ma tưởng, không một tu sĩ nào thoát ra khỏi nanh
vuốt của sáu loại ma này. Cho nên, người ta tu hành tuy có thần thông tưởng và
thiền định tưởng để mà có thần thông tưởng và thiền định tưởng, chứ chẳng ích lợi
gì cho bản thân họ và ai cả. Họ chẳng làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt
luân hồi.
Tu
hành như vậy, làm sao nhập được Sơ Thiền, họ chỉ tưởng tượng ra Sơ Thiền mà dạy
người như vậy, tức là phỉ báng Phật Pháp, thật là đau lòng cho Phật pháp ngày
nay và tội cho chúng sanh thời này, tu theo Phật mà lại tu nhằm pháp ngoại đạo,
cứ tưởng là mình tu đúng pháp Phật.
Thưa
quý vị học giả, nếu quý vị đã tu chứng được thiền định và đạt được Tam Minh thì
nên mở tu viện, thiền viện hoặc viết kinh sách dạy người tu hành, bằng không
thì thôi, đừng vì danh lợi nhỏ mọn mà giết người như thế này. Tu chưa tới đâu
mà dám dạy người tu như những lời dạy trên đây, quý vị xem cuộc sống và mạng
người như cỏ rác. Ngay cả thiền xả tâm của Phật mà không hỏi kỹ thì tu hành
cũng trở thành thiền ức chế tâm, cũng có thể xảy ra tai hại cho tánh mạng con
người, huống là tu thiền ức chế tâm mà các vị đã dạy thì tai hại còn biết bao
nhiêu.
Quý
vị có nghe đức Phật đã dạy chăng? “Giới sanh định”. Ở đây một lần
nữa chúng tôi xin nhắc lại, chữ định của giới luật sanh ra là sự “tĩnh thức”
luôn luôn hoạt động trong “tầm và tứ thiện”. Vì thế quý vị đừng
hiểu lầm định của giới luật là tâm bất động không vọng tưởng, chẳng niệm thiện
niệm ác; cũng đừng hiểu với nghĩa là tịch chiếu như Thiền Đông Độ. Đến đây lại
sanh ra một danh từ khác nữa, quý vị có thể hiểu lầm, đó là Bất Động Tâm Định,
Bất Động Tâm Định là một loại thiền định do giới luật sanh ra, Bất Động Tâm Định
tức là tâm bất động trước các ác pháp, trước các cảm thọ, chứ không phải bất động
là không vọng tưởng, không niệm thiện niệm ác, nói cho dễ hiểu bất động, tức là
tĩnh thức trong niệm chơn chánh, niệm chơn chánh tức là niệm thiện. Niệm thiện
tức là niệm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Cho
nên, từ giới luật sống đúng Phạm hạnh, không phạm phải một giới nhỏ nhặt nào
thì tâm sẽ ly dục ly ác pháp, tức là tâm sẽ nhập Sơ Thiền. Ở đây, cớ sao quý vị
lại dạy nhập Sơ Thiền như vậy, “Định tướng có khói xám thì đó là Sơ tướng
trong trạng thái Sơ định”. Quý vị có loạn thần kinh chưa?
Sơ Thiền là do ly dục nhập Sơ Thiền, chứ đâu phải ngồi bất động chẳng niệm thiện
niệm ác. Sơ Thiền là một trạng thái bình thường như mọi người nhưng tâm chỉ ly
dục ly ác pháp nên ý thức vẫn còn (tầm tứ) thì làm gì có định tướng ảo tưởng được.
Quý vị gạt người không biết thiền định chứ người đã nhập định thì quý vị không
lừa đảo dối gạt được.
Quý
vị ngồi thiền như con cóc, ngồi lâu tưởng ra khói xám rồi cho đó là định tướng
Sơ Thiền, thì thiền như vậy có phải là thiền của Phật không? Hay là một thứ thiền
tưởng mà quý vị đặt ra để ngồi trong mát ăn bát vàng, để lừa đảo người không biết?
Nói
đến Tầm, Tứ quý vị lại hiểu ngoài kinh sách của đạo Phật, quý vị có đọc bài
kinh Song Tầm và bài kinh An Trú Tầm chưa? Nếu đã đọc thì quý vị không thể giải
thích năm chi thiền như thế này được, năm chi thiền đó là :
“1-
Tầm (Vitakka): Đem tâm hướng về định tướng.
2- Tứ
(Vicara): Bám sát vào định tướng.
3- Hỷ
(pity): Ưa thích định tướng.
4- Lạc
(sukha): Cảm giác an lạc, sung sướng khi tiếp xúc với định tướng.
5-
Nhất tâm (Ekaggata): Tập trung về một điểm (đó là định tướng)”.
Ở
đây chúng tôi không có ý kiến, xin quý vị đọc lại hai bài kinh trên, trong kinh
Trung Bộ thì quý vị sẽ rõ.
Sơ
Thiền là một loại thiền xả tâm, dùng “ý thức tĩnh giác trong mọi hành động
để xả những tâm niệm ác của mình”, không bao giờ dùng tưởng thức.
Vì thế, phải lấy “Giới Luật tu tập, lập hạnh, sống đời sống Phạm hạnh có
như vậy thì mới xả tâm được”. Ngoài giới luật ra thì không còn có pháp
môn nào xả tâm hữu hiệu hơn nữa. Cho nên, giới luật là pháp môn đầu tiên của đạo
Phật để đi vào lộ trình giải thoát “Chánh định”.
Người
nào dạy tu tập thiền định Phật giáo mà không dạy giới luật thì người đó chưa hiểu
thiền định của đạo Phật. Khi đọc bài Quán Niệm Hơi Thở trong Nguyệt san Giác Ngộ
số 23, chúng tôi rất đau lòng vì bài thuyết pháp dạy tu Tứ Thánh Định là của một
nhà sư Nam Tông Nguyên Thủy mà dạy như vậy thì chúng ta không nên trách các nhà
sư Bắc Tông vì họ dạy theo kinh phát triển Đại Thừa.
Thảo
nào, hiện giờ người ta tu theo Phật giáo mà chẳng có ai thực hiện Bốn Thánh Định
và Tam Minh được, là vì không theo lời dạy của đức Phật. Người ta dùng tưởng tu
tập thiền định và tu hành chưa tới đâu, chẳng làm chủ sanh tử luân hồi được, mà
cũng lập đạo tràng dạy người tu. Bằng chứng qua bài viết này, chúng ta cũng biết
Phật giáo hiện giờ không còn ai tu chứng, nên những người học giả này muốn dạy
như thế nào tùy ý, dạy sao không ai dám cãi, dám bàn mà còn dám đăng trên báo,
phổ biến khắp nơi, xem các bậc Tôn Túc, Trưởng Lão Hòa Thượng, Thượng Tọa ở Việt
Nam và các nước trên thế giới là những người vô minh u tối không hiểu kinh sách
và lời dạy của đức Phật.
Người
nhập Sơ Thiền chưa có định, chỉ có ly dục ly ác pháp, tâm mới thanh tịnh. Vậy
mà ở đây lại dạy Sơ Thiền có định tướng.
Người
nhập Sơ Thiền là người tu tập giới luật, mới vén lên được năm cái màn ngăn che,
đó là: tham, sân, si, mạn, nghi chứ không phải tu tập hơi thở mà phá được ngũ
triền cái như trong bài Quán Niệm Hơi Thở này dạy.
Trong
bài kinh Song Tầm Phật dạy: “diệt tầm ác giữ tầm thiện” tức là ly
dục ly ác pháp; ly dục ly ác pháp, tức là nhập Sơ Thiền, chứ không như nhà học
dạy: Tầm là đem tâm hướng về định tướng; Tứ là bám sát vào định tướng, dạy như
vậy không đúng như lời Phật dạy.
Trong
Sơ Thiền có “Tầm Tứ”, tầm không phải hướng về định tướng,
mà là hướng về thiện pháp; Tứ không phải bám sát vào định tướng, mà Tứ là tác ý
(như lý tác ý) để diệt ác pháp. Như trong bài kinh Xuất Tức Nhập Tức, Phật đã dạy
về Định Niệm Hơi Thở, như lý tác ý rất rõ ràng: “Quán ly tham
tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Đó là “Tứ”
như lý tác ý để xả tâm tham, sân, si, mạn, nghi, tức là xả ngũ triền
cái. Thiền định của Phật không phải dùng hơi thở ức chế tâm mà dùng hơi thở để
xả tâm. Cho nên Phật dạy: “muốn nhập Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền thì Định
Niệm Hơi Thở khéo tác ý”.
Ở
đây, nhà học giả Nam Tông dạy bốn thiền của Phật theo tưởng giải của mình, nên
Phật Pháp trở thành tà giáo ngoại đạo, chính vì vậy đạo Phật dần dần biến dạng,
thành tà giáo, pháp môn thành pháp môn của ngoại đạo.
Để
so sánh Quán Niệm Hơi Thở của nhà sư Nam Tông và Định Niệm Hơi Thở của đức Phật
giống nhau và khác nhau ở chỗ nào?
Nếu
ai đã đọc bài kinh Xuất Tức Nhập Tức trong kinh Trung Bộ thì nhận thấy có 16 đề
tài tu về Định Niệm Hơi Thở. Mười sáu đề tài đó là 16 câu pháp hướng để xả tâm
ngũ triền cái và thất kiết sử, tức là khắc phục tham ưu hay nói cách khác là ly
dục ly bất thiện pháp.
Cách
thức tu tập, nương vào hơi thở để giữ tâm bằng cách tĩnh thức và xả tâm. Đồng
thời một lượt mà đạt cả hai kết quả tĩnh thức và xả tâm, nhưng phải hiểu tĩnh
thức là vấn đề phụ, còn xả tâm là vấn đề chánh. Cho nên, khi xả tâm hoàn toàn
vô lậu thì tĩnh thức là xả tâm, tức là tâm nghe, hiểu, biết tất cả mà không
dính mắc một pháp nào. Đó là mục đích giải thoát của đạo Phật.
Khi
tâm đã ly dục ly ác pháp thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì tâm mới đủ sức lực
để sử dụng pháp hướng dẫn thân tâm nhập vào các định (Định Như Ý Túc), cho nên
nhập từ Nhị Thiền đến Tứ Thiền không có khó khăn, không có mệt nhọc, chỉ bằng
pháp hướng tịnh chỉ các hành trong thân và tâm, chứ không dùng định tướng để nhập
các định khác như nhà học giả Nam Tông đã dạy.
Theo
lộ trình tu tập của đạo Phật, ngoài Định Niệm Hơi Thở, hành giả còn phải tu các
định khác nữa như: Định Sáng Suốt, Định Chánh Niệm Tĩnh Giác, Định Vô Lậu, thì
mới mong nhập được Sơ Thiền, chứ không phải chỉ có định Niệm Hơi Thở không mà
thôi.
Ở
đây, nhà học giả Nam Tông dạy Quán Niệm Hơi Thở bằng cách tùy tức, nếu tùy tức
không nhiếp phục được vọng tưởng thì dùng pháp đếm hơi thở (sổ tức), khoảng độ
một giờ thì định tướng xuất hiện, khi định tướng xuất hiện, họ sẽ ôm định tướng
mà nhập các định khác (Từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền). Cách thức nhập Bốn Thánh Định
của họ quá đơn giản, nhưng chắc chắn họ sẽ không làm chủ sanh, già, bệnh, chết.
Bằng chứng những vị sư này chưa làm chủ bệnh đau của mình và đời sống của họ
thì mong gì làm chủ sự sống chết và luân hồi.
Tóm
lại, Định Niệm Hơi Thở của Phật và Quán Niệm hơi thở của nhà Sư Nam Tông thì sự
tu hành không giống nhau chút nào cả; một bên thì dùng hơi thở ức chế tâm để nhập
định; một bên thì dùng hơi thở tĩnh thức để xả tâm.
Đến
Thiền Thứ Hai nhà học giả dạy: “Thiền sinh cũng nên nhận thức rằng các
thiền chi Tầm và Tứ trong tầng Thiền Thứ Nhất làm cho tầng thiền này không an định
bằng tầng thiền thứ nhì”.
Qua
lời dạy trên đây chúng ta thấy nhà học giả không hiểu sự an định của thiền thứ
nhất và thiền thứ nhì. Sự an định của thiền thứ nhất là do “tầm tứ” tịnh chỉ
tâm dục và ác pháp hay nói cách khác là tịnh chỉ ngôn ngữ, tức là ly dục ly bất
thiện pháp. Vì thế, chúng ta phải hiểu sự an định của tầng thiền thứ nhất
“lấy tâm động, tạo tâm bất động” còn sự an định của tầng thiền thứ nhì “lấy
tâm bất động tạo định”, chứ không như nhà học giả dạy sự an định
của thiền thứ nhì hơn thiền thứ nhất. Hai sự an định của hai loại thiền này
không giống nhau, chỉ có hỷ lạc là thiền thứ nhì hơn thiền thứ nhất như đức Phật
đã dạy trong bài kinh Sa Môn Quả.
Chỗ
này muốn cho dễ hiểu hơn, chúng tôi cho một ví dụ thì quý vị sẽ hiểu rõ ràng:
Ví như có một người luôn tìm mọi cách sống trong thiện pháp, sau một thời gian
tâm họ hoàn toàn thiện và họ đang ở trong ngôi nhà thứ nhất, bây giờ họ muốn
sang ngôi nhà thứ nhì, thì họ có mang theo ngôi nhà thứ nhất hay không? Họ có
mang theo cái tâm toàn thiện của họ hay không? Bây giờ họ muốn sang ngôi nhà thứ
ba, thì họ có mang theo ngôi nhà thứ hai không? Và đến ngôi nhà thứ ba họ có
mang theo tâm thiện của họ hay không? Bây giờ họ lại muốn sang ngôi nhà thứ tư,
họ có mang theo ngôi nhà thứ ba không? Khi đến ngôi nhà thứ tư họ có mang theo
cái tâm thiện của họ không?
Nếu
tâm không thanh tịnh thì không thể nào nhập được chánh định, tâm chưa thanh tịnh
mà nhập định, tức là tà định, định ức chế tâm. Vì thế, người sống không đúng giới
hạnh là người nhập tà định.
Đến
thiền thứ nhì nhà học giả lúng túng không biết pháp hành. Đây, chúng ta nghe tiếp
đoạn trên: “Vì thế, từ ước muốn rời bỏ hai thiền chi này và chỉ còn giữ
thiền chi Hỷ, Lạc, Nhất tâm, thiền sinh tiếp tục đem tâm vào tợ tướng. Làm như
thế thiền sinh có thể đạt vào tầng thiền thứ nhì”.
Đến
thiền thứ nhì nhà học giả quên lời Phật dạy: “Xả Sơ Thiền mới nhập Nhị thiền”.
Cái vô minh của nhà học giả đã để lộ chơn tướng u tối, cái không biết của mình
quá rõ ràng: “tiếp tục đem tâm vào tợ tướng”, tức là giữ
trạng thái định của Sơ thiền mà nhập Nhị Thiền, nhà học giả hiểu Sơ Thiền và Nhị
Thiền là hai nấc thang.
Sơ
Thiền và Nhị Thiền không phải là hai nấc thang của một cây thang mà hai loại
thiền định tu tập không giống nhau. Sơ Thiền còn có những tên như: Bất Động Tâm
Định, Vô Tướng Tâm Định. Cách tu tập của Sơ Thiền là “Ly”. Cách
tu của Nhị Thiền là “Diệt”. Các nhà học giả không có kinh
nghiệm tu hành nên bước vào tu thiền định thì chỉ có cách ức chế tâm “diệt
ý thức, hưng phấn tuởng thức”.
Thiền
thứ ba và thiền thứ tư nhà học giả cũng không biết pháp hành nên dạy cứ ôm tợ
tướng của thiền dưới nhập thiền trên: “Sau đó thiền sinh nhận thức, rằng
hỷ cũng không đem lại an định, nên ước muốn bỏ hỷ, chỉ còn giữ lại Lạc và Nhất
tâm. Thiền sinh tiếp tục đem tâm vào tợ tướng. Làm như thế thiền sinh có thể đạt
vào tầng thiền thứ ba, vốn chỉ còn hai chi: Lạc và Nhất tâm. Sau
khi vào được Tam Thiền, thiền sinh hành trì năm loại thuần thục như trên”.
“Sau
đó thiền sinh nhận thức rằng nếu cứ duy trì lạc thì lại là một hình thức tham
thủ vào cảm giác vui sướng. Cho nên với ý định bỏ lạc, thiền sinh tiếp tục đem
tâm vào tợ tướng. Làm như thế thiền sinh có thể đạt vào tầng thiền thứ tư”.
Trong
kinh Ước Nguyện đức Phật dạy rất rõ: “Tùy theo ý, muốn ước nguyện một điều
gì thì giới luật phải sống nghiêm trì, không phạm phải một lỗi nhỏ nhặt nào,
thì nhập Bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, không có khó khăn,
không có mệt nhọc, không có phí sức”.
Xưa,
Thầy Khương Tăng Hội dạy nhập Bốn Thiền trong sách An Ban Thủ Ý theo kiểu học
giả mà chúng tôi đã có lần trả lời cho cô Diệu Quang. Đồng thời lúc ấy chúng
tôi cũng có nhận được một bức thư của cô Diệu Tịnh hỏi, trong đó nhà học giả lấy
kết quả của Bốn Thiền như trong kinh Sa Môn Quả mà đức Phật đã dạy, làm bốn bài
kệ dạy người tu nhập Bốn Thiền, giống như kiểu thiền sư Đông Độ v.v.. Xin quý vị
đọc tiếp “Đường Về Xứ Phật” phần vấn đạo thì quý vị càng rõ hơn. Trên đây là một
nhà học giả Nam Tông dạy nhập Bốn Thiền mà được dịch sang Việt ngữ, theo chúng
tôi nghĩ không phải có một bài này mà có rất nhiều bài dạy nhập về Bốn Thánh Định
này. Nhưng chắc chắn chưa có vị sư nào nhập được Bốn Thánh Định, chỉ nói dối lừa
đảo người mà thôi.
Người
xưa bảo rằng: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.
Thế mà, các nhà học giả thời nay tu hành chưa đến nơi đến chốn, và tu không
đúng như lời Phật dạy, tu chưa được giải thoát sanh, lão, bệnh, tử, chưa thực
hiện đầy đủ Tam Minh, giống như người chưa biết thì nên dựa cột mà nghe, có đâu
lại dạy tu thiền điên khùng cho thiên hạ như vậy.
Dạy
thiền như các nhà học giả này mà còn viết soạn ra kinh sách, thì kinh sách này
sẽ chẳng ích lợi gì cho con người, mà còn làm cho con người phí hết cuộc đời và
có thể những người này sẽ trở thành những người lừa đảo có kinh sách.
Thật
ra bài Quán Niệm Hơi Thở này chúng tôi đã được đọc trong tập nguyệt san Giác Ngộ
hơn cả năm nay, thấy những điều dạy sai trong pháp hành thiền của đức Phật,
nhưng chúng tôi chẳng hề động đến, ai có duyên tu sao cũng được, đúng sai là do
nhân quả gieo duyên tu của mọi người.
Nhưng
rồi do một nhân duyên, đây cũng là duyên Phật pháp, khi đọc bản thảo Đường Về Xứ
Phật trên máy tính về phần vấn đạo nhiều Phật tử gợi ý: Sao Thầy không chứng
minh sự lừa đảo, lường gạt bằng những pháp môn kiến giải, tưởng giải của một số
Sư, Thầy “háo danh, háo lợi”, để giúp đỡ biết bao nhiêu
người tín đồ Phật giáo tránh khỏi sự lừa đảo, lường gạt này và làm sáng tỏ lại
giáo pháp của đức Phật. Nếu Thầy không nói ra thì còn ai biết đâu mà nói, đã từ
bao thế kỷ nay, biết bao nhiêu giáo pháp kiến giải, tưởng giải của một số tà sư
ngoại đạo đã che phủ toàn bộ giáo pháp của đức Phật, khiến cho mọi người nghiên
cứu và tu học giáo pháp của đức Phật không thể nào rõ được.
May
thay kinh sách Nguyên Thủy của Phật còn đó, nhờ Thầy vạch rõ để giúp cho mọi
người thấu hiểu, chứ hiện giờ họ xem những tu sĩ Phật giáo đã chịu ảnh hưởng sâu
sắc của kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ, nên họ chẳng còn biết lời dạy nào
đúng sai của Phật. Vì vậy, họ mới dám dạy thiền tưởng qua tưởng giải, từ chỗ tu
không đúng pháp của Phật.
(Đường Về Xứ Phật, T6)
Subscribe to:
Posts (Atom)
Sách nói: LỜI PHẬT DẠY - biên soạn: Thích Tánh Trí
Sách nói LỜI PHẬT DẠY do Đại đức Thích Tánh Trí biên soạn, qua hai giọng đọc phật tử Chúc Sen và Thiện Nghĩa. Ước nguyện LỜI PHẬT DẠY...
-
Để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị nhiều căn bệnh mới xuất hiện trong xã hội hiện đại như căng thẳng, trầm cảm, rối loạn chuyển hóa, hay thậm...
-
Sách nói LỜI PHẬT DẠY do Đại đức Thích Tánh Trí biên soạn, qua hai giọng đọc phật tử Chúc Sen và Thiện Nghĩa. Ước nguyện LỜI PHẬT DẠY...
-
Entry này tập hợp những bài pháp Thầy Thông Lạc dạy cho Phật tử đối diện cận tử nghiệp, thọ khổ. Pháp âm về Cận Tử Nghiệp Bài 0:...





